Giá lúa hè thu 2026 đang đi xuống, điều gì xảy ra sau lời kêu gọi doanh nghiệp mua lúa từ 7.000 đồng/kg?
Giá lúa hè thu 2026 tại Tây Ninh và các tỉnh ĐBSCL đang có xu hướng đi xuống ở một số giống. Mức giảm chưa lớn, nhưng sức mua chậm và nguồn cung tăng khi nhiều địa phương bước vào thu hoạch rộ đang tạo áp lực rõ hơn lên thị trường.
Thu hoạch lúa hè thu ở tỉnh Tây Ninh. Ảnh: Như Ý
Giá lúa hè thu 2026 bắt đầu giảm khi nguồn cung tăng
Từ giữa tháng 7 đến đầu tháng 8, giá lúa hè thu 2026 tăng khá tốt. Tại Tây Ninh, giống Đài Thơm 8 và OM18 có thời điểm đạt 7.300-7.600 đồng/kg. OM5451 đạt 6.800-7.100 đồng/kg. IR50404 ở mức 6.100-6.400 đồng/kg.
Đến đầu tháng 8, nhiều vùng vẫn bán được lúa với giá 6.800-7.000 đồng/kg. Nông dân có năng suất cao vẫn đạt lợi nhuận khá.
Tại xã Tân Hưng (tỉnh Tây Ninh), Phòng Kinh tế xã cho biết, năng suất lúa hè thu đạt khoảng 6,5-7 tấn/ha. Giá bán đầu tháng 8 từ 6.800-7.000 đồng/kg.
Sau khi trừ chi phí, nông dân đạt lợi nhuận khoảng 18-20 triệu đồng/ha. Nếu phải thuê đất làm lúa, lợi nhuận giảm còn khoảng 9-10 triệu đồng/ha.
Nhưng từ giữa tháng 8, giá bắt đầu điều chỉnh. Một số giống giảm 100-400 đồng/kg.
Hiện giá lúa tươi Đài Thơm 8 tại ĐBSCL phổ biến 6.800-7.000 đồng/kg. OM18 ở mức tương tự nhưng giảm khoảng 100 đồng/kg. OM5451 còn 6.500-6.600 đồng/kg. OM34 đạt 6.000-6.100 đồng/kg.
IR50404 vẫn giữ 6.300-6.400 đồng/kg. Nếp IR4625 tươi đạt 7.300-7.500 đồng/kg.
Điểm đáng chú ý là giá lúa hè thu 2026 không giảm đồng loạt. Sức mua mới là vấn đề được quan tâm.
Tại An Giang, thương lái hỏi mua lúa mới khá chậm. Tỉnh Đồng Tháp cũng ghi nhận giao dịch trầm lắng. Một số bạn hàng chưa mua mới. Tại Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long, giá nhìn chung ít biến động.
Trong khi đó, nhiều vùng tiếp tục thu hoạch. An Giang và Đồng Tháp đang về cuối vụ.
Nguồn cung tăng nhưng sức mua chưa cải thiện sẽ khiến giá lúa hè thu 2026 khó duy trì mức cao như đầu vụ.
Diễn biến giá lúa hiện nay chịu tác động đáng kể từ thị trường xuất khẩu. Theo các doanh nghiệp thu mua và xuất khẩu, đầu tháng 8, Philippines tuyên bố mở cửa nhập khẩu gạo trong cả năm 2026 nhằm bảo đảm an ninh lương thực trước nguy cơ El Niño mạnh.
Tuy nhiên, đến nay Philippines vẫn chưa cấp thêm giấy phép kiểm dịch thực vật (SPS) đối với gạo thơm.
Vì vậy, Việt Nam chưa phát sinh thêm đơn hàng gạo thơm sang thị trường này. Trong thời gian chờ cấp phép, các nhà nhập khẩu Philippines chủ yếu chuyển sang mua gạo Japonica và gạo nếp.
Giá lúa hè thu 2026 và lời kêu gọi giữ mức 7.000 đồng/kg
Trước đó, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) kêu gọi doanh nghiệp chung tay giữ giá lúa cho nông dân và giá gạo xuất khẩu.
VFA cho rằng người trồng lúa đang chịu sức ép khi chi phí vật tư đầu vào vẫn cao, trong khi giá thu mua có xu hướng giảm vào thời điểm thu hoạch. Hiệp hội kêu gọi các doanh nghiệp hội viên và thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo tích cực thu mua lúa.
Trong đó, VFA đề nghị doanh nghiệp thu mua Đài Thơm 8, OM18... cho nông dân với giá từ 7.000 đồng/kg. Đây được xem là mức giá nhằm góp phần ổn định sản xuất và thu nhập của người trồng lúa.
Tuy nhiên, diễn biến thị trường sau đó cho thấy việc giữ mức giá này không dễ.
Bà Dương Thanh Thảo - Giám đốc Công ty CP Gạo Ông Thọ cho biết, khoảng 15 ngày qua, giá lúa đã giảm khoảng 800 đồng/kg. Đầu tháng 8, doanh nghiệp mua lúa về nhà máy khoảng 7.000 đồng/kg. Hiện giá chỉ còn khoảng 6.200 đồng/kg.
Theo bà Thảo, sức ép tăng lên khi các vùng sản xuất bước vào chính vụ. Lượng lúa đưa ra thị trường lớn hơn. Trong khi đó, đầu ra chưa tăng tương ứng.
Bà cho rằng không thể áp dụng một mức giá sàn chung 7.000 đồng/kg cho tất cả các loại lúa.
Cùng một giống ST25 nhưng bán sang Trung Quốc, Mỹ, Australia hay Nhật Bản sẽ có yêu cầu khác nhau.
Tỷ lệ tấm, độ ẩm, chất lượng hạt, tuổi gạo và tiêu chuẩn từng thị trường đều tác động đến giá. Vì thế, không thể lấy một mức giá chung để áp cho tất cả, bà Thảo phân tích.
Theo bà, doanh nghiệp cũng phải tính toán hiệu quả kinh doanh. Nếu mua lúa 7.000 đồng/kg nhưng đầu ra không có lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ khó tiếp tục mua. Một số nhà máy còn tồn lượng gạo lớn từ năm 2024. Áp lực thu hồi vốn khiến khả năng mua giá cao càng hạn chế.
Vì vậy, bài toán của giá lúa hè thu 2026 không chỉ nằm ở việc đưa ra một mức giá sàn. Điều quan trọng hơn là tạo được đầu ra đủ mạnh để doanh nghiệp có thể mua với giá tốt mà vẫn kinh doanh hiệu quả.
Bà Thảo cũng cho rằng, Việt Nam cần xây dựng tiêu chuẩn rõ ràng cho từng dòng gạo, kiểm soát thương hiệu và mở rộng thị trường. Doanh nghiệp của bà hiện xuất khẩu ST25 với giá khoảng 940-950 USD/tấn. Có thời điểm đạt khoảng 1.000 USD/tấn.
Khi chất lượng được chuẩn hóa và thương hiệu được kiểm soát, giá trị hạt gạo sẽ có cơ sở tăng lên. Đây là hướng đi dài hạn để giá lúa hè thu 2026 không chỉ phụ thuộc vào sức mua tại thời điểm thu hoạch rộ.