image banner
Ngân sách dành ít nhất 2% tổng chi hàng năm cho bảo vệ môi trường
Lượt xem: 8
Giai đoạn 2026-2030, ngân sách sẽ dành ít nhất 2% tổng chi hàng năm cho bảo vệ môi trường, cùng với việc huy động nguồn lực xã hội, vốn quốc tế, tài chính xanh.
Anh-tin-bai

Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam Bùi Thị Thơm cùng lãnh đạo Hội Nông dân TP.Hà Nội tặng thùng đựng rác phân loại tại nguồn và chế phẩm sinh học xử lý môi trường cho các thành viên CLB nông dân tham gia bảo vệ môi trường nông thôn xã Thuận An. Ảnh: Thu Hà

Đó là một trong những nội dung được nêu trong Kết luận số 75 ngày 28/7 của Ban chấp hành Trung ương khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

Ngân sách sẽ chi ít nhất 2% mỗi năm cho bảo vệ môi trường

Theo đó, mục tiêu đến 2030, năng lực quản trị môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai được nâng cao, bảo vệ tốt hơn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, sinh kế của Nhân dân.

Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được tập trung xử lý, phục hồi; chất lượng môi trường sống của Nhân dân được cải thiện; suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái.

Các nguồn thải lớn được kiểm soát chặt chẽ, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, carbon thấp gắn với đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững đất nước.

Đến 2045, Việt Nam có môi trường sống trong lành, hài hoà với thiên nhiên, phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại; thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp trở thành phương thức phát triển quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Trong phần giải pháp, nhiệm vụ, Trung ương đề nghị khẩn trương hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và pháp luật có liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất.

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu; kết hợp chặt chẽ giữa tiền kiểm gắn với tăng cường hậu kiểm dựa trên mức độ tuân thủ; xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.

Thiết lập cơ chế kết hợp kiểm soát từng nguồn thải với kiểm soát theo vùng, khu vực và tổng thải lượng chất ô nhiễm; hoàn thiện cơ chế điều phối liên vùng, liên ngành, liên địa phương.

Đặc biệt, quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã trong kiểm soát nguồn thải, bảo đảm chất lượng môi trường và giải quyết các vấn đề môi trường; thống nhất nguyên tắc một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì.

Trung ương cũng cho biết, sẽ bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; hoàn thiện cơ chế, chính sách phân bổ, quản lý sử dụng bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả.

Bên cạnh đó, phát huy hiệu quả vai trò dẫn dắt của ngân sách nhà nước; huy động, phát huy hiệu quả các nguồn lực xã hội, nguồn vốn quốc tế, các quỹ khí hậu toàn cầu, nguồn tài chính xanh, đầu tư xanh, nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, nguồn vốn vay ưu đãi và các nguồn lực hợp pháp khác phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xanh, phát thải cácbon thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu

"Giải quyết có trọng tâm, trọng điểm các vấn đề bức xúc về môi trường"

Kết luận số 75 cũng nêu rõ, sẽ tập trung giải quyết có trọng tâm, trọng điểm các vấn đề bức xúc về môi trường, nhất là ô nhiễm không khí tại các đô thị đặc biệt; ô nhiễm nước tại các lưu vực sông, kênh, mương, hồ, đoạn sông; ô nhiễm tại các làng nghề, cụm công nghiệp, khu vực khai thác, chế biến khoáng sản, các khu vực tồn lưu hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật.

Thúc đẩy phân loại chất thải phục vụ tái sử dụng, tái chế, xử lý kết hợp thu hồi năng lượng, giảm mạnh tỉ lệ chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt. Đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng, công nghệ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; hình thành các khu liên hợp tái chế, xử lý chất thải, nhất là chất thải nhựa, chất thải từ quá trình chuyển đổi xanh.

Kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu công nghệ, thiết bị lạc hậu, gây ô nhiễm, tiêu hao nhiều tài nguyên, hiệu quả thấp. Từng bước áp dụng công cụ quản lý tổng thải lượng chất ô nhiễm phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường tại những khu vực có rủi ro cao, áp lực môi trường lớn. Quản lý chặt chẽ, giám sát liên tục theo thời gian thực các nguồn phát sinh nước thải, khí thải lớn, không để phát sinh khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, chuyển đổi các ngành kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, phát thải carbon thấp và tạo ra các ngành kinh tế mới nhằm giảm áp lực đối với môi trường, phấn đấu thực hiện mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Thúc đẩy tuần hoàn vật liệu, sản phẩm trong toàn chuỗi giá trị; có cơ chế ưu đãi vượt trội cho các dự án phát triển công nghiệp tái chế, xử lý chất thải. Ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo, khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Chuyển đổi hệ thống sản xuất lương thực, thực phẩm theo hướng giảm phát thải, tuần hoàn và bền vững. Thúc đẩy các mô hình công nghiệp xanh, đô thị xanh, công trình xanh, giao thông xanh, hình thành các khu vực đô thị phát thải thấp. Thực hiện các chương trình đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ sinh kế trong quá trình chuyển đổi xanh.

Kiểm soát chặt chẽ phát thải khí nhà kính ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án, trong toàn bộ vòng đời sản phẩm và hoạt động tiêu dùng của xã hội; hoàn thiện hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm phát thải khí nhà kính theo tiêu chuẩn quốc tế. Quản lý chặt chẽ hoạt động trao đổi tín chỉ carbon; từng bước xây dựng tiêu chuẩn tín chỉ carbon trong nước tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế.

Nguồn bài viết: Danviet
Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1