Việt Nam đổi mới mô hình phát triển: Tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập
Bộ Chính trị xác định trọng tâm của đổi mới mô hình phát triển đất nước: Phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người làm trung tâm, mục tiêu, động lực và chủ thể phát triển.
Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Chính sách Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị (Ảnh: Media Quochoi).
Mô hình phát triển của Việt Nam lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chính; nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực quốc gia là nguyên tắc trung tâm.
Cần tạo bước đột phá về đổi mới mô hình phát triển.
Sáng nay 29/7, thay mặt Bộ Chính trị, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Chính sách Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã trình bày chuyên đề "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" trong thời kỳ mới, được quán triệt tại Nghị quyết Trung ương 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Theo đó, sau 40 năm đổi mới (1986-2026), Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, từ một nền kinh tế kém phát triển vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động, phát triển nhanh.
Năm 2025, GDP đạt 514 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới, thứ tư ASEAN; Việt Nam nằm trong nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.
Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được khẳng định.
Tuy nhiên, Bộ Chính trị xác định mô hình phát triển vẫn còn những điểm nghẽn. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng đầu tư, khai thác tài nguyên, lao động chi phí thấp, gia công, lắp ráp; chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo còn hạn chế, năng lực tự chủ chiến lược chưa cao.
Bên cạnh đó, văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh mềm và động lực nội sinh; an sinh xã hội, an ninh con người còn những mặt chưa vững chắc; quản lý môi trường, tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu chưa đạt yêu cầu; quản trị quốc gia chưa đáp ứng đầy đủ đòi hỏi phát triển mới.
Trong khi đó, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại. Công nghệ số làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất và quản trị; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trở thành nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia, tự chủ chiến lược và an ninh phát triển.
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và năng lực cạnh tranh quốc gia, cùng yêu cầu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần tạo bước đột phá về đổi mới mô hình phát triển.
Trên cơ sở đó, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam với hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đột phá.
Theo cách tiếp cận hệ thống, mô hình phát triển đất nước là cấu trúc tổng thể gồm quan điểm, triết lý, mục tiêu, các yếu tố nền tảng, trụ cột phát triển, hệ thống động lực và cơ chế vận hành; đồng thời xác định cách thức Nhà nước, thị trường và xã hội tương tác để đạt mục tiêu trong từng giai đoạn.
Mô hình này bao gồm các thành phần về kinh tế, xã hội, văn hóa - con người, môi trường, quốc phòng - an ninh, đối ngoại - hội nhập quốc tế và quản trị quốc gia.
Bộ Chính trị quán triệt, không có mô hình phát triển chung cho mọi quốc gia hay mọi thời kỳ. Mô hình luôn vận động, điều chỉnh, đổi mới để phù hợp với điều kiện lịch sử, trình độ phát triển, thể chế chính trị và bối cảnh quốc tế.
Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam được xây dựng trên cơ sở bám sát chủ trương, quan điểm của Đảng từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đến các văn kiện Đại hội Đảng từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XIV (2026); kế thừa thành tựu lý luận và thực tiễn 40 năm đổi mới, tổng kết mô hình phát triển qua các giai đoạn 1986-2010, 2011-2020 và 2021-2025, đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và phân tích bối cảnh trong nước, quốc tế.
Mô hình phát triển Việt Nam "tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập"
Trên cơ sở đó, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam với 5 quan điểm chỉ đạo.
Thứ nhất, đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam; thực hiện nhất quán “bốn kiên định”, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ hai, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo năng lực phát triển mới, chuyển sang mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người làm trung tâm, mục tiêu, động lực và chủ thể phát triển.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chính; nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực quốc gia là nguyên tắc trung tâm.
Thứ ba, mô hình phát triển vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản trị, Nhân dân làm chủ”, dựa trên nền quản trị quốc gia hiện đại và quan hệ hài hòa giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.
Phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị là then chốt; văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực, động lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia; quốc phòng, an ninh và đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.
Thứ tư, huy động và phát huy mọi nguồn lực để xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững và trường tồn.
Thứ năm, đổi mới mô hình phát triển phải đồng bộ, toàn diện, phù hợp từng giai đoạn; lấy đổi mới thể chế và quản trị quốc gia làm khâu đột phá, chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển.
Quản trị dựa trên mục tiêu, không gian phát triển, dữ liệu và kết quả; lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo.
Về mục tiêu, đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành tạo lập nền tảng cho mô hình phát triển mới, phù hợp trình độ của nước thu nhập trung bình cao, có công nghiệp hiện đại; tạo đột phá về thể chế, quản trị quốc gia, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và doanh nghiệp dẫn dắt.
Đến năm 2035, cơ bản chuyển sang mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, hình thành đồng bộ các mô hình thành phần về kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập; xã hội hiện đại, toàn diện; văn hóa và con người toàn diện, hiện đại, giàu bản sắc; môi trường sinh thái hiện đại, thông minh; quốc phòng, an ninh hiện đại, tự chủ; đối ngoại và hội nhập chủ động, hiệu quả; quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, thông minh, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả.
Đến năm 2045, Việt Nam vận hành đồng bộ mô hình phát triển mới, trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xanh, tuần hoàn, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng; làm chủ các công nghệ chiến lược quan trọng, phát triển xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa; văn hóa và con người trở thành sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm và nền tảng phát triển quốc gia.
Tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; là một trong những nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu châu Á, có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng và an ninh; xã hội thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc.
Để hiện thực hóa mô hình mới, Nghị quyết đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp về thể chế và quản trị quốc gia; kinh tế; xã hội; văn hóa, con người; môi trường sinh thái; quốc phòng, an ninh; đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Trong đó, trọng tâm kinh tế là xác lập mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nhân lực chất lượng cao; tổ chức lại không gian phát triển; phát triển kinh tế biển và các không gian mới; hoàn thiện thị trường các yếu tố sản xuất; nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực; phát triển lực lượng sản xuất mới; thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp; phát triển hạ tầng chiến lược; lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và đẩy mạnh đô thị hóa.
Cùng với đó là xây dựng hệ thống an sinh xã hội bao trùm, phát triển nhân lực chất lượng cao; phát huy văn hóa, con người và thu hút nhân tài; chuyển từ quản lý quy mô dân số sang phát triển vốn dân số; thúc đẩy chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, thị trường carbon, tài chính xanh; hiện đại hóa quốc phòng, an ninh, bảo đảm tự chủ công nghệ và dữ liệu.
Đồng thời, xây dựng nền đối ngoại toàn diện, hiện đại, lấy ngoại giao kinh tế làm trọng tâm, đa dạng hóa đối tác, thị trường, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái công nghệ.
Tất cả hướng tới một mô hình phát triển mới, trong đó tự cường gắn với hội nhập, sáng tạo gắn với phát triển bền vững, và tăng trưởng kinh tế gắn chặt với nâng cao chất lượng cuộc sống, hạnh phúc của Nhân dân.