Vị trí, vai trò của các Chi, Tổ hội nghề nghiệp trong xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh
(Cổng ĐT HND) – Đó là chủ đề tham luận do đồng chí Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh An Giang Nguyễn Văn Cọp đã trình bày chiều 7/6 tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX trong phiên làm việc ngày thứ nhất.
Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh An Giang Nguyễn Văn Cọp trình bày tham luận tại Đại hội
Sau hợp nhất, tỉnh An Giang có không gian phát triển mới, hội tụ lợi thế đồng bằng, biên giới, biển và đảo. Toàn tỉnh có 102 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 85 xã, 14 phường và 3 đặc khu.
Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, với thế mạnh về sản xuất lúa gạo, rau màu, cây ăn trái, chăn nuôi, thủy sản nước ngọt, thủy sản biển và công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm.
Theo ông Cọp, thị trường ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phát thải thấp và bảo vệ môi trường, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún không còn phù hợp.
Trước thực tế đó, Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sạch, gắn với công nghiệp chế biến, chế tạo tỉnh An Giang giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040 đã được ban hành. Trong đó, xác định mục tiêu chuyển mạnh sang tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản.
Đây là thời cơ để các cấp Hội Nông dân trong tỉnh phát huy vai trò vận động, tập hợp, hướng dẫn nông dân chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp.
Trong khi đó, Hội Nông dân tỉnh An Giang xác định chi Hội Nông dân nghề nghiệp, tổ Hội Nông dân nghề nghiệp là phương thức tập hợp nông dân thiết thực, phù hợp yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức Hội trong tình hình mới.
Nếu chi hội địa bàn dân cư là nền tảng tổ chức, thì chi, tổ hội nghề nghiệp là hạt nhân liên kết những hội viên cùng ngành nghề, cùng mối quan tâm, cùng chia sẻ kinh nghiệm, cùng trách nhiệm và cùng hưởng lợi. Qua đó, Hội không chỉ tuyên truyền bằng nghị quyết, kế hoạch, mà trực tiếp đồng hành với nông dân trong từng mô hình sản xuất, từng mùa vụ, từng khâu liên kết và tiêu thụ sản phẩm.
Thời gian qua, các cấp Hội trong tỉnh đã quan tâm củng cố tổ chức Hội, đổi mới sinh hoạt chi, tổ hội theo hướng gắn với sản xuất, đời sống và lợi ích thiết thực của hội viên. Toàn tỉnh hiện có 102 cơ sở Hội, 1.663 chi Hội theo địa bàn dân cư, 10.401 tổ Hội với 269.878 hội viên; đã xây dựng 483 chi Hội Nông dân nghề nghiệp và 1.462 tổ Hội Nông dân nghề nghiệp. Đây là lực lượng quan trọng để Hội triển khai các phong trào thi đua, xây dựng tổ hợp tác, hợp tác xã, mô hình sản xuất an toàn, hữu cơ, VietGAP, GlobalGAP, mô hình chuyển đổi số và các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn.
Công tác tuyên truyền, vận động được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, tập trung làm cho hội viên, nông dân thấy rõ lợi ích của việc tham gia chi, tổ hội nghề nghiệp: được trao đổi kỹ thuật, tiếp cận thị trường, hỗ trợ vốn, vật tư, giống, máy móc, kết nối doanh nghiệp, hợp tác xã và được hướng dẫn sản xuất theo tiêu chuẩn.
Từ năm 2023 đến nay, các cấp Hội đã tuyên truyền hơn 80.971 cuộc với hơn 2.134.014 lượt hội viên, nông dân tham dự; phối hợp bồi dưỡng 12.098 nông dân nâng cao kiến thức, kỹ năng sản xuất, kinh doanh, liên kết chuỗi giá trị và sử dụng công nghệ thông tin. Từ chuyển biến nhận thức đó, ngày càng nhiều nông dân mạnh dạn tham gia hợp tác, liên kết, thay đổi phương thức sản xuất theo hướng hiện đại và bền vững.
Nét nổi bật trong công tác vận động của Hội là gắn xây dựng chi, tổ hội nghề nghiệp với phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi và phát triển kinh tế tập thể. Hàng năm có 273.603 hộ đăng ký danh hiệu nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp; có 155.070 hộ đạt danh hiệu.
Từ phong trào đã xuất hiện nhiều nông dân giỏi, chủ trang trại, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh có khả năng làm nòng cốt trong các chi, tổ hội nghề nghiệp. Các cấp Hội đã vận động, hướng dẫn thành lập mới 89 hợp tác xã nông nghiệp, 450 tổ hợp tác; lựa chọn 100 tổ hợp tác mạnh tham gia Đề án một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp; tham gia cùng ngành nông nghiệp triển khai thí điểm 22 mô hình với diện tích 1.117 ha.
Cùng với đó, Hội đã xây dựng 72 mô hình chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp, 102 mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ; hướng dẫn 11.073 hội viên cài đặt và sử dụng nền tảng số “Nông dân Việt Nam”; hỗ trợ 3.901 hộ nông dân bán nông sản trên sàn thương mại điện tử. Những kết quả này cho thấy chi, tổ hội nghề nghiệp đang từng bước trở thành cầu nối quan trọng giữa nông dân với hợp tác xã, doanh nghiệp, thị trường, khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Đối với mô hình nông nghiệp công nghệ cao, Hội đã vận động hội viên, nông dân tham gia sản xuất lúa chất lượng cao, lúa phát thải thấp, mô hình “1 phải, 5 giảm”, “3 giảm, 3 tăng”, sử dụng thiết bị bay không người lái; ứng dụng tưới tiết kiệm nước, nhà lưới, nhà màng; áp dụng mã số vùng trồng, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc; phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, hệ thống biogas;
Vận động nuôi thủy sản theo VietGAP, GlobalGAP, ASC, BAP, nuôi tuần hoàn, nuôi biển công nghệ cao. Đối với nông nghiệp tuần hoàn, Hội vận động tận dụng rơm rạ, trấu, phụ phẩm sau thu hoạch làm phân hữu cơ, nấm rơm, thức ăn chăn nuôi hoặc nguyên liệu sinh khối; nhân rộng đệm lót sinh học, hầm biogas, chế phẩm vi sinh; kiểm soát môi trường nước, giảm kháng sinh, giảm hóa chất trong thủy sản.
Cùng với tuyên truyền và tổ chức mô hình, các cấp Hội còn đẩy mạnh hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân. Nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân sau hợp nhất đạt 127,259 tỷ đồng, đã giải ngân 371 dự án cho 1.993 hộ vay; dư nợ ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội đạt trên 3.453 tỷ đồng với 1.735 tổ tiết kiệm và vay vốn, 84.337 hộ vay; phối hợp các ngân hàng thương mại hỗ trợ vốn cho nông dân với dư nợ trên 13.062 tỷ đồng.
Hội còn phối hợp cung ứng vật tư, máy nông nghiệp theo phương thức trả chậm; đào tạo nghề cho trên 13.091 lượt người; tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho 27.541 lượt hội viên, nông dân; triển khai chương trình MobiAgri với 2.031 cuộc, thu hút trên 50.775 lượt hội viên, nông dân tham gia.
Từ thực tiễn triển khai cho thấy, công tác vận động các chi, tổ hội nghề nghiệp xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn đã đạt nhiều kết quả tích cực.
Nhận thức của cán bộ, hội viên, nông dân về sản xuất an toàn, sản xuất sạch, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và liên kết chuỗi giá trị từng bước được nâng lên; hình thức tập hợp nông dân theo ngành nghề ngày càng phù hợp với nhu cầu thực tiễn; nhiều mô hình đã tạo chuyển biến về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới.
Bên cạnh đó, một số chi, tổ hội nghề nghiệp hoạt động chưa đồng đều; hỗ trợ vốn, khoa học kỹ thuật, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại chưa tương xứng; nhiều mô hình công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết bền vững.
Trong thời gian tới, Hội Nông dân tỉnh An Giang xác định tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng chi, tổ hội nghề nghiệp theo hướng thực chất, hiệu quả, bền vững. Trọng tâm là gắn việc thành lập mới ít nhất 500 chi Hội Nông dân nghề nghiệp, 1.500 tổ Hội Nông dân nghề nghiệp trong nhiệm kỳ 2025-2030 với mục tiêu của Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2026-2030.
Phấn đấu xây dựng ngày càng nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, mô hình hợp tác sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thân thiện với môi trường, mô hình trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản theo hướng hữu cơ, an toàn sinh học, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn.
Các cấp Hội sẽ đổi mới nội dung sinh hoạt chi, tổ hội nghề nghiệp theo chuyên đề, sát từng ngành hàng chủ lực của tỉnh như lúa gạo, rau màu, cây ăn trái, chăn nuôi, cá tra, tôm, nuôi biển, sản phẩm OCOP. Mỗi chi, tổ hội nghề nghiệp cần có kế hoạch sản xuất, nhật ký sản xuất, quy trình kỹ thuật, phương án liên kết tiêu thụ, bảo vệ môi trường và lộ trình chuyển đổi số.
Hội Nông dân các cấp tăng cường phối hợp với ngành Nông nghiệp và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Liên minh Hợp tác xã, doanh nghiệp, ngân hàng, viện, trường để tập huấn tại mô hình, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận an toàn, hữu cơ, xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm.
Hội Nông dân tỉnh An Giang đề xuất Trung ương Hội quan tâm bố trí nguồn lực, cơ chế hỗ trợ để Hội Nông dân các cấp trực tiếp tham gia xây dựng mô hình chi, tổ hội nghề nghiệp gắn với nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn.
Tạo điều kiện để các chi, tổ hội nghề nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, chính sách khuyến nông, hỗ trợ máy móc, thiết bị, chuyển đổi số, chứng nhận tiêu chuẩn, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu; đồng thời, đặt hàng Hội Nông dân tham gia các chương trình, đề án về phát triển kinh tế tập thể, lúa chất lượng cao, phát thải thấp, OCOP, chuyển đổi số trong nông nghiệp và bảo vệ môi trường nông thôn.