6 yêu cầu tiên quyết của chế định nguyên thủ quốc gia
Thứ nhất về chính trị: Phải giữ được nguyên tắc bảo vệ chế độ chính trị, mục tiêu xây dựng CNXH, đảm bảo được sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong hệ thống chính trị; đồng thời đảm bảo địa vị chính trị, vai trò lãnh đạo chính trị của Nguyên thủ quốc gia. Đảm bảo sự hợp lý trong phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước; yêu cầu chủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới xây dựng hoàn thiện bộ máy nhà nước.
Thứ hai về kinh tế, xã hội: Cần được quan tâm xem xét trong điều kiện Việt Nam đang chuyển đổi mạnh mẽ, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện khát vọng phát triển theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã đề ra, phấn đấu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước là nước phát triển có thu nhập cao. Nguyên thủ quốc gia phải thực sự có vai trò và đóng góp trong hoạch định chiến lược, chính sách để kinh tế, xã hội phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước; phát triển kinh tế gắn với tiến bộ công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển bền vững.
Thứ ba, về quốc phòng, an ninh: trên cương vị thống lĩnh các lực lượng vũ trang, Nguyên thủ quốc gia phải thể hiện được vai trò là người lãnh đạo đất nước và lực lượng vũ trang bảo vệ vững chức độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Góp phần quan trọng vào giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.
Thứ tư về đối ngoại, quan hệ quốc tế, trước hết là đáp ứng yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước, là thành viên tích cực có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Phát huy các quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, biến quan hệ đối ngoại thành nguồn lực cho phát triển đất nước.
Trong bối cảnh đó sự tham gia, hình ảnh mang tính biểu tượng của Nguyên thủ quốc gia trên các diễn đàn song phương, đa phương trong khu vực và quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm tăng cường sự tin cậy, quan tâm lẫn nhau cũng như tạo lòng tin uy tín chính trị ở cấp thượng đỉnh với các nước và bạn bè quốc tế. Đồng thời tận dụng tốt sự tham gia của Nguyên thủ quốc gia thay mặt nhà nước về đối ngoại đối với xử lý, ứng phó với các vấn đề quốc tế, bang giao nước ngoài, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở Hiến chương Liên hiệp quốc và luật pháp quốc tế. Tranh thủ tốt ngoại lực để tiếp tục phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Thứ năm, người đại diện đứng đầu Nhà nước, đại diện quốc gia, dân tộc, phải là người đại diện cho đội tiên phong, bộ tham mưu của giai cấp công nhân và toàn dân tộc, người lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đó là Đảng cộng sản Việt Nam
Trên cương vị cao nhất của người đứng đầu nhà nước, Chủ tịch nước phải là biểu tượng, trung tâm quy tụ lực lượng, sức mạnh dân tộc, đại diện cho ý chí, niềm tin của nhân dân. Thông điệp của Chủ tịch nước thực chất phải là thông điệp của Đảng, Nhà nước gửi tới toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và bạn bè quốc tế, thể hiện chí độc lập, tự chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vì vậy, người đại diện tốt nhất cho dân tộc phải nên là người đứng đầu Đảng cộng sản Việt Nam.
Thứ sáu, đảm bảo phát huy vai trò chế định Nguyên thủ quốc gia-Chủ tịch nước thực quyền, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Cải cách đổi mới chế định nguyên thủ quốc gia như thế nào thì cũng phải đảm bảo thực chất, thực việc. Một là, phải nâng cao hiệu quả việc chọn lựa Nguyên thủ quốc gia (chọn được người thực sự đủ đức, đủ tài, gánh vác trách nhiệm đứng đầu quốc gia một cách tốt nhất, phát huy quyền làm chủ của nhân dân); Hai là, phải phát huy được vai trò, vị trí xứng đáng của Nguyên thủ quốc gia trong mối quan hệ tương quan giữa các chủ thể chính trị, đặc biệt là vai trò của Nguyên thủ quốc gia trong thực hiện sự lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong mối quan hệ với các thiết chế khác trong bộ máy nhà nước; Ba là, phải đảm bảo được tính chính đáng quyền lực của Nguyên thủ quốc gia trong đối nội và đối ngoại, xứng đáng với tầm vóc quốc gia, dân tộc; Bốn là, phải đảm bảo được bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả nhất; Năm là, phải tránh được sự lạm quyền của Nguyên thủ quốc gia; Sáu là, phải phát huy và bảo đảm được bản chất dân chủ XHCN nhà nước của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân; Bảy là thự hiện tinh gọn bộ máy, biến ý chí của người đứng đầu Đảng thành hành động của người đứng đầu Nhà nước, mà không qua tầng nấc, khâu trung gian nào.
Như vậy chế định Nguyên thủ quốc gia trong điều kiện hệ thống chính trị có một đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền là một chế định: Tinh, gọn, mạnh, sáng suốt; hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng được tinh thần xây dựng Nhà nước Việt Nam theo ý nguyện Chủ tịch Hồ Chí Minh: Một chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân.
Tổng Bí thư là Bí thư Quân ủy Trung ương, trong khi đó Chủ tịch nước là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, lại có nhiệm vụ thống lĩnh các lực lượng vũ trang nên việc nhất thể hóa là cần thiết.
Tổng Bí thư là Chủ tịch nước sẽ thuận lợi hơn trong đối nội và đối ngoại, nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn cầu sâu rộng hiện nay, Việt Nam đã và đang ngày càng hoà mình chung vào dòng chảy của luật pháp quốc tế, vai trò đại diện Nhà nước, đại diện chính thể ngày càng cần được coi trọng, người đứng đầu Nhà nước, người đứng đầu Đảng cùng đồng thời một chức danh sẽ thuận lợi và phù hợp hơn trong các vấn đề ngoại giao cấp cao nhà nước, ngoại giao nguyên thủ mà Việt Nam tham gia.