Nông nghiệp Hà Nội chuyển mình theo hướng xanh, truy xuất nguồn gốc gắn với bảo vệ môi trường
Trung tâm Khuyến nông Hà Nội (Sở NNMT Hà Nội) đã và đang triển khai xây dựng nhiều các mô hình trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản... theo hướng đa dạng, phù hợp đặc điểm từng địa phương, đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, góp phần bảo vệ môi trường.
Anh Nguyễn Văn Thiêm, Giám đốc HTX Thủy sản công nghệ cao Đại Áng (xã Ngọc Hồi) giám sát quy trình chế biến cá khép kín ngay tại HTX. Ảnh: Duy Khánh
Thủy sản chuyển hướng hiện đại
Thực hiện Quyết định của UBND thành phố Hà Nội về chương trình khuyến nông thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030. Thời gian qua, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đang từng bước khẳng định vai trò "đầu tàu" trong chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, góp phần vào tái cơ cấu ngành nông nghiệp Thủ đô. Nổi bật trong đó là lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản… có truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh, gắn với bảo vệ môi trường.
Trong lĩnh vực thủy sản, thành phố đang từng bước chuyển đổi theo hướng hiện đại. Nhiều mô hình đã ứng dụng công nghệ “sông trong ao”, hệ thống sục khí, cho ăn tự động đến ứng dụng camera và điện thoại thông minh trong quản lý ao nuôi. Việc ứng dụng công nghệ không chỉ giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn giảm ô nhiễm môi trường, hướng tới phát triển thủy sản bền vững.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, thành phố Hà Nội có khoảng 9.700ha nuôi trồng thủy sản ứng dụng chế phẩm sinh học và máy quạt nước. Nhiều mô hình biofloc được triển khai tại các xã Ba Vì, Ứng Hòa nhằm hạn chế thay nước, tận dụng hệ vi sinh để xử lý chất thải, qua đó giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Năng suất tại một số mô hình “sông trong ao” có thể đạt 16-20 tấn/bể/vụ đối với bể có thể tích khoảng 220-250m³. Việc kiểm soát tốt các điều kiện nuôi cũng giúp chất lượng cá đồng đều hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Tại Hợp tác xã Thủy sản công nghệ cao Đại Áng (xã Ngọc Hồi), việc mạnh dạn đầu tư công nghệ đã giúp nâng cao rõ rệt hiệu quả sản xuất. Anh Nguyễn Văn Thiêm, Giám đốc Hợp tác xã cho biết, đơn vị đang là một trong những cơ sở tiên phong áp dụng công nghệ nuôi cá "sông trong ao".
Hiện, Hợp tác xã có 15 bể nuôi trên diện tích 10ha mặt nước, sản lượng đạt khoảng 300 tấn cá mỗi năm, cao gấp 1,8 lần so với phương thức nuôi truyền thống trên cùng diện tích. Theo đó, mô hình giúp kiểm soát chặt chẽ môi trường nuôi và tổ chức sản xuất theo quy trình khép kín. Cá được nuôi trong bể sạch, thường xuyên sục khí và hút chất thải, giúp môi trường nước ổn định, hạn chế mùi và giảm nguy cơ ô nhiễm.
“Không chỉ nâng cao năng suất, mô hình còn hướng tới tận dụng phụ phẩm và chất thải trong quá trình sản xuất. Chất thải được thu gom, xử lý để sử dụng trong trồng trọt, góp phần giảm lượng chất thải ra môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế”, anh Thiêm chia sẻ.
Lãi hàng tỷ đồng từ... chăn nuôi theo chuỗi
Trong lĩnh vực chăn nuôi, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội cũng đã xây dựng và triển khai nhiều mô hình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, giúp nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm. Trong đó, nổi bật là các mô hình kinh tế tuần hoàn trong chăn nuôi đã biến chất thải thành phân bón hữu cơ sử dụng bón cho cây trồng.
Hiện, Hà Nội có tổng đàn trâu, bò gần 140.000 con, đàn lợn gần 1,4 triệu con và đàn gia cầm hơn 40 triệu con. Bình quân mỗi năm, ngành chăn nuôi cung ứng cho thị trường hơn 450.000 tấn thịt hơi các loại. Bên cạnh đó, có hơn 6.700 trang trại, gồm 94 trang trại quy mô lớn, 1.735 trang trại quy mô vừa và gần 5.000 trang trại quy mô nhỏ.
Tuy nhiên, cùng với tốc độ đô thị hóa và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng thực phẩm, phương thức chăn nuôi truyền thống cũng bộc lộ những hạn chế, nhất là nguy cơ ô nhiễm môi trường, khó kiểm soát dịch bệnh và an toàn thực phẩm.
Do đó, định hướng của Hà Nội trong giai đoạn tới là giảm, tiến tới dừng chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư; từng bước chuyển sang chăn nuôi tập trung, trang trại và phát triển các vùng chăn nuôi phù hợp với quy hoạch. Trong đó, chăn nuôi công nghệ cao, chăn nuôi tuần hoàn và hữu cơ được xác định là những hướng ưu tiên.
Cùng với con giống, hệ thống chuồng trại cũng có những thay đổi đáng kể. Khoảng 30% cơ sở chăn nuôi lợn và gà quy mô lớn sử dụng chuồng kín; 87% cơ sở bò sữa và hơn 50% cơ sở bò thịt áp dụng hệ thống làm mát.
Đặc biệt, công nghệ xử lý chất thải đang góp phần thay đổi diện mạo các trang trại chăn nuôi. Hầm biogas bằng Composite, HDPE, máy ép phân và chế phẩm vi sinh EM được sử dụng ở nhiều cơ sở. Khoảng 75% trang trại bò sữa, 44% trang trại bò thịt và 95% trang trại lợn quy mô lớn đã sử dụng biogas. Hơn 70% cơ sở sử dụng khí biogas phục vụ sinh hoạt và tái sử dụng nước thải cho trồng trọt.
Một trong những mô hình tiêu biểu về chăn nuôi công nghệ cao là Hợp tác xã Chăn nuôi Hoàng Long ở xã Dân Hòa. Với quy mô 400 lợn nái và hơn 4.000 lợn thương phẩm, Hợp tác xã đang tổ chức sản xuất theo quy trình khép kín.
Ông Nguyễn Trọng Long, Giám đốc Hợp tác xã Chăn nuôi Hoàng Long cho biết, thức ăn được xử lý qua hệ thống khử khuẩn trước khi phối trộn; khu vực chăn nuôi được trang bị máy ozone sát trùng và hệ thống quạt thông gió hiện đại. Khu nuôi lợn giống được thiết kế nhiều tầng, sử dụng hệ thống đèn công nghệ cao vừa sưởi ấm vừa hỗ trợ sát trùng.
Nhờ kiểm soát tốt nguồn con giống, thức ăn đầu vào cũng như toàn bộ chuỗi sản xuất đã giúp Hợp tác xã Chăn nuôi Hoàng Long cung cấp ra thị trường khoảng 2 tấn thịt lợn/ngày; trong đó có khoảng một nửa sản lượng được chế biến thành giò, chả, xúc xích, thịt hun khói, nem chua...; số còn lại được pha lóc, đóng gói, hút chân không mang nhãn hiệu “Chuỗi thực phẩm A-Z". Các sản phẩm được cung cấp vào các siêu thị và hệ thống các trường học ở địa phương.
Trong lĩnh vực gia cầm, Công ty cổ phần Giống gia cầm Ngọc Mừng tại xã Thư Lâm cũng đầu tư mạnh vào công nghệ kiểm soát môi trường chuồng nuôi. Hệ thống tự động giúp kiểm soát nhiệt độ, môi trường và thực hiện việc cho gà ăn, uống.
Giám đốc Công ty cổ phần Giống gia cầm Ngọc Mừng Hoàng Mạnh Ngọc cho biết, nhờ ứng dụng công nghệ, đàn gà sinh trưởng khỏe mạnh, ít dịch bệnh. Mỗi tháng, doanh nghiệp cung cấp khoảng 600.000 con gà giống, mang lại doanh thu hàng chục tỷ đồng.
Từ hiệu quả của những mô hình chăn nuôi trên cho thấy, ứng dụng công nghệ không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn xử lý tốt chất thải từ chăn nuôi, mở ra khả năng tổ chức chăn nuôi với mật độ, quy mô và phương thức quản lý khác trước. Đây là cơ sở để Hà Nội từng bước phát triển các vùng chăn nuôi tập trung, giảm áp lực đối với khu vực dân cư.
BÀI VIẾT CÓ SỰ PHỐI HỢP CỦA SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI