image banner
Hai loài thủy sản Việt Nam đang được Trung Quốc mua nhiều nhất, xuất khẩu sang Mỹ gặp khó khăn
Lượt xem: 21
8 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu tôm đạt 3,3 tỷ USD, cá tra 1,5 tỷ USD, trong đó, Trung Quốc tiếp tục là thị trường đang mua nhiều nhất, lần lượt chiếm 34% và 27%. Đối với thị trường Mỹ, VASEP dự báo xuất khẩu sẽ khó khăn trong quý IV.
Anh-tin-bai
8 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu tôm đạt 3,3 tỷ USD, thị trường Trung Quốc chiếm 34%.

Trung Quốc dẫn đầu mua tôm, cá tra Việt Nam

Theo số liệu Hải quan Việt Nam, tháng 8/2026, xuất khẩu tôm đạt 478,5 triệu USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng đạt 3,3 tỷ USD, tăng 12%.

Tôm chân trắng tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 2 tỷ USD, tăng 7,6%; tôm sú đạt gần 318 triệu USD, tăng 7,4%; nhóm tôm loại khác đạt 936,6 triệu USD, tăng 25%.

Trung Quốc và Hong Kong tiếp tục là động lực lớn nhất, đạt gần 1,12 tỷ USD, tăng 35,9% và chiếm 34,1% tổng xuất khẩu tôm Việt Nam trong 8 tháng. Riêng Trung Quốc đạt hơn 1,07 tỷ USD, tăng 38,2%. Đây là mức tăng nổi bật nhất trong các thị trường lớn và tiếp tục hỗ trợ đáng kể cho kết quả chung của ngành.

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang Mỹ đạt 436,1 triệu USD, giảm 11,7%; riêng tháng 8 giảm 12,6%. EU cũng chưa tạo được động lực mới, với kim ngạch 355,3 triệu USD, giảm 3,6%; tháng 8 giảm tới 23,5%.

Trong khi đó, Nhật Bản tăng 6,1% lên 388,5 triệu USD; Australia tăng 18,2%; Canada tăng 6,5%. Khối CPTPP đạt 901 triệu USD, tăng 11%, tiếp tục cho thấy vai trò của cơ cấu thị trường đa dạng đối với tôm Việt Nam.

Đối với xuất khẩu cá tra, tiếp tục duy trì tăng trưởng trong tháng 8/2026, đưa kim ngạch 8 tháng đầu năm lên 1,5 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 8, xuất khẩu đạt 205 triệu USD, tăng 6%. Tuy nhiên, diễn biến giữa các thị trường ngày càng phân hóa khi Trung Quốc và Brazil tăng trưởng tích cực, trong khi Mỹ tiếp tục giảm mạnh.

Trung Quốc tiếp tục dẫn dắt xuất khẩu cá tra Việt Nam chiếm 27% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm nay. Riêng tháng 8/2026, kim ngạch sang thị trường này đạt 60 triệu USD, tăng 18% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026 đạt 417 triệu USD, tăng 29%.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đánh giá, mức tăng trưởng cao tại Trung Quốc tiếp tục đóng góp đáng kể vào kết quả chung của ngành, trong bối cảnh một số thị trường lớn khác chịu sức ép. Nhu cầu tại thị trường này vẫn được duy trì, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục khai thác các nhóm sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng và chế biến.

Một mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực khác của Việt Nam là cá ngừ tiếp tục tăng trưởng trong tháng 8/2026, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng không cao chỉ đạt 2%. Tháng 8 ghi nhận nhiều chuyển động trái chiều giữa các thị trường: Mỹ vẫn giữ vai trò chủ lực, Nhật Bản và Canada cải thiện, Nga tiếp tục tăng mạnh, trong khi EU vẫn giảm sâu. Những diễn biến này cho thấy doanh nghiệp đang bước vào những tháng cuối năm với một thị trường nhiều biến số hơn.

Tháng 8/2026, Việt Nam xuất khẩu gần 90 triệu USD cá ngừ, tăng 2% so với cùng kỳ. Con số này gần như đi ngang so với tháng 7, nhưng bên trong có sự phân hóa khá rõ giữa các thị trường.

Mỹ tiếp tục đứng đầu với 35 triệu USD, tăng 23% so với cùng kỳ, dù giảm khoảng 8% so với tháng 7. Tính chung 8 tháng, xuất khẩu sang Mỹ đạt 248 triệu USD, tăng 8%.

Mức tăng này giúp Mỹ tiếp tục là động lực quan trọng nhất của ngành. Tuy nhiên, những tháng cuối năm sẽ khó đoán hơn khi thuế bổ sung 12,5% của Mỹ đối với hàng hóa Việt Nam bắt đầu tác động đến các đơn hàng mới từ cuối tháng 7. Nhà nhập khẩu sẽ phải tính lại giá mua, trong khi doanh nghiệp xuất khẩu cũng đứng trước sức ép chia sẻ một phần chi phí thuế để giữ khách.

"Đây sẽ là phép thử thực sự đối với khả năng giữ đơn hàng của cá ngừ Việt Nam tại Mỹ. Tác động có thể chưa phản ánh đầy đủ trong số liệu tháng 8 do độ trễ giữa thời điểm ký hợp đồng, giao hàng và thông quan", theo VASEP.

Trong khi Mỹ vẫn là trụ cột, Nga đang nổi lên như một thị trường có tốc độ tăng đáng chú ý. Sau 8 tháng, xuất khẩu cá ngừ sang Nga đạt 38 triệu USD, tăng 56%. Đây là một trong những mức tăng cao nhất trong nhóm thị trường lớn của Việt Nam. Tuy nhiên trong tháng 8, xuất khẩu cá ngừ sang thị trường này giảm nhẹ 6% so với cùng kỳ năm 2025.

 

Với giá trị xuất khẩu của tôm, cá tra, cá ngừ đã góp phần đưa tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành thủy sản Việt Nam 8 tháng 2026 đạt hơn 8 tỷ USD, tăng 11,9%. Trong khi đó, năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu cả năm trên 11 tỷ USD.

Xuất khẩu vào Mỹ sẽ khó khăn

VASEP cho hay, thị trường Mỹ đang đặt ra nhiều thách thức cho xuất khẩu thủy sản trong quý IV. Sức ép tại thị trường Mỹ không chỉ đến từ thuế. Doanh số thủy sản tươi và đông lạnh trong tháng 8 đều giảm hơn 7%, trong khi lượng tồn kho còn cao khiến các nhà nhập khẩu thận trọng hơn với đơn hàng mới, rút ngắn thời hạn hợp đồng và gia tăng sức ép giảm giá. Vì vậy, nhu cầu phục vụ mùa lễ cuối năm chưa chắc chuyển thành mức tăng tương ứng về nhập khẩu nếu các nhà phân phối vẫn ưu tiên xử lý lượng hàng tồn.

Từ ngày 24/7/2026, nhiều mặt hàng thủy sản Việt Nam chịu thêm thuế Section 301 ở mức 12,5%. Khoản thuế này được cộng với thuế tối huệ quốc và, tùy từng mặt hàng hoặc doanh nghiệp, có thể phát sinh thêm thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp. Chi phí thuế vì vậy có thể tạo sức ép đáng kể lên giá bán và khả năng cạnh tranh của hàng Việt tại thị trường Mỹ.

Đối với cá tra, kết quả cuối cùng của kỳ rà soát hành chính lần thứ 21 (POR21) đối với lệnh thuế chống bán phá giá được công bố ngày 12/8 với mức thuế bất lợi hơn kết quả sơ bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chào giá và lựa chọn nhà cung cấp. Xuất khẩu cá tra sang Mỹ vì vậy khó phục hồi nhanh trong quý IV, nhất là đối với các doanh nghiệp chịu mức thuế cao hoặc chưa xác định rõ điều kiện áp dụng.

Với tôm, kết quả cuối cùng của kỳ rà soát thuế chống bán phá giá dự kiến được công bố vào đầu tháng 11. Thời điểm này khá sát mùa mua hàng cuối năm, khiến doanh nghiệp và nhà nhập khẩu phải tính toán đơn hàng trong điều kiện chưa xác định đầy đủ nghĩa vụ thuế. Nếu mức thuế cuối cùng tăng mạnh, các hợp đồng đã ký có thể phát sinh vấn đề về giá, chia sẻ chi phí hoặc thời điểm giao hàng.

Bên cạnh chính sách thuế, thủy sản nhập khẩu vào Mỹ còn chịu yêu cầu liên quan đến MMPA, chứng nhận, kiểm soát lao động cưỡng bức, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Những yêu cầu này làm gia tăng chi phí tuân thủ và đòi hỏi doanh nghiệp phải kiểm soát chặt hồ sơ ngay từ khâu nguyên liệu.

Nguồn bài viết: Danviet
Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1