Hội viên nông dân phát triển kinh tế lâm nghiệp, giúp nhau làm giàu và giảm nghèo vững
(Cổng ĐT HND) - Từ lợi thế đất đai, đồi rừng và sự cần cù, năng động, anh Đỗ Cao Cường, hội viên nông dân thôn Bỗng, xã Thác Bà, tỉnh Lào Cai đã mạnh dạn đầu tư phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với chế biến gỗ và chăn nuôi. Không chỉ tạo việc làm, thu nhập ổn định cho gia đình và người dân địa phương, anh còn tích cực hỗ trợ hàng chục hộ hội viên phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và xây dựng sinh kế bền vững từ kinh tế rừng.
Sản phẩm chủ yếu của cơ sở sản xuất là ván bóc, ván ép
Phát huy lợi thế đồi rừng
Xã Thác Bà có diện tích tự nhiên 142,54 km², địa hình chủ yếu là đồi núi thấp; có Hồ Thác Bà với 1.300 hòn đảo lớn nhỏ. Đất lâm nghiệp của xã có 10.462 ha, chiếm 73,4% tổng diện tích đất tự nhiên. Đây là điều kiện thuận lợi để người dân phát triển kinh tế đồi rừng, hình thành các mô hình sản xuất gắn với trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến lâm sản.
Những năm gần đây, cùng với sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương và Hội Nông dân các cấp, phong trào trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc trên địa bàn có bước phát triển. Nhiều hộ nông dân đã từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chuyển từ làm ăn nhỏ lẻ sang phát triển kinh tế hàng hóa, tận dụng lợi thế đất đai để trồng rừng sản xuất, tạo sinh kế lâu dài, nâng cao thu nhập và bảo vệ môi trường sinh thái.
Trong xu hướng phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng bền vững, việc gắn trồng rừng với chế biến, nâng cao giá trị sản phẩm và đa dạng hóa sinh kế đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương quan tâm. Thực tiễn tại Lào Cai cho thấy kinh tế rừng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm, nâng cao thu nhập và bảo vệ môi trường.
Là người sinh ra và lớn lên tại xã Thác Bà, anh Đỗ Cao Cường luôn trăn trở làm thế nào để khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, giúp người dân có thêm sinh kế ngay trên quê hương mình. Sau quá trình tìm hiểu nhu cầu thị trường, tham gia các lớp tập huấn khoa học kỹ thuật và tích lũy kinh nghiệm thực tế, năm 2017, anh mạnh dạn liên kết với một số hộ gia đình trong thôn cung cấp nguyên liệu, đồng thời đầu tư máy móc để sản xuất, kinh doanh chế biến gỗ rừng trồng. Sản phẩm chủ yếu là ván bóc, ván ép.
Với quy mô diện tích sản xuất 1,5 ha, năng suất đạt khoảng 6.000 m³/năm, mô hình không chỉ mang lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình mà còn góp phần tạo đầu ra cho gỗ rừng trồng, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm lâm nghiệp trên địa bàn. Từ thực tế sản xuất, anh Cường nhận thấy nếu người dân chỉ dừng lại ở việc trồng và bán nguyên liệu thô thì giá trị kinh tế chưa được phát huy đầy đủ. Vì vậy, việc liên kết giữa người trồng rừng với cơ sở chế biến, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường là hướng đi cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh tế rừng.
Lấy ngắn nuôi dài, đa dạng sinh kế
Từ kết quả sản xuất, kinh doanh đạt được, năm 2021, anh Cường tiếp tục đầu tư mở rộng sang chăn nuôi lợn thịt và lợn nái sinh sản. Quy mô đàn gồm 150 con lợn nái và 500 con lợn thịt. Mỗi năm, mô hình cung cấp khoảng 92,5 tấn lợn thịt và 2.750 con lợn giống.
Mô hình phát triển sản xuất của gia đình anh đã tạo việc làm cho 40 lao động tại địa phương, trong đó có 25 lao động thường xuyên và 15 lao động mùa vụ, với thu nhập bình quân khoảng 7,5 triệu đồng/người/tháng. Lợi nhuận sau khi trừ các chi phí dao động từ 1,7 - 4,5 tỷ đồng/năm; gia đình đóng góp thuế và phúc lợi xã hội trên 200 triệu đồng/năm.
Điều đáng ghi nhận ở mô hình của anh Cường không chỉ nằm ở quy mô sản xuất hay hiệu quả kinh tế, mà còn ở cách lựa chọn hướng đi phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Theo anh, để phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, người nông dân cần thay đổi tư duy, từ sản xuất manh mún sang sản xuất hàng hóa; chú trọng liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; lựa chọn cây trồng phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng và chủ động áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Từ kiến thức được tiếp thu qua các lớp tập huấn do Hội Nông dân các cấp và ngành nông nghiệp tổ chức, kết hợp kinh nghiệm thực tiễn, anh xác định keo lai và quế là những cây trồng có nhiều tiềm năng trên địa bàn.
Với cây keo, người dân có thể áp dụng kỹ thuật trồng, tỉa thưa đúng chu kỳ, bón phân hữu cơ, chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng; sau khoảng 5 - 7 năm có thể khai thác, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất giấy và gỗ ván ép. Đối với cây quế, sau 3 - 4 năm có thể khai thác vỏ, lá phục vụ chiết xuất tinh dầu. Việc kết hợp chăn nuôi dưới tán rừng cũng giúp tận dụng diện tích đất, thực hiện phương châm “lấy ngắn nuôi dài”, tạo thêm nguồn thu cho người dân.
Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển kinh tế lâm nghiệp hiện nay, trong đó giá trị của rừng không chỉ nằm ở gỗ mà còn được phát huy thông qua lâm sản ngoài gỗ, sinh kế dưới tán rừng, dịch vụ môi trường và các giá trị sinh thái.
Không để ai bị bỏ lại phía sau
Từ hiệu quả của mô hình gia đình, anh Đỗ Cao Cường nhận thấy muốn kinh tế lâm nghiệp phát triển rộng hơn thì phải có sự liên kết và hỗ trợ lẫn nhau giữa các hộ nông dân. Trên cơ sở đó, các tổ Hội Nông dân nghề nghiệp từng bước được hình thành, trở thành nơi để hội viên chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ giống, vốn, kỹ thuật và cùng nhau phát triển sản xuất. Những hội viên có điều kiện kinh tế khá hơn sẵn sàng hỗ trợ cây, con giống; giúp ngày công lao động; góp vốn xoay vòng không tính lãi để các hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn có điều kiện đầu tư trồng rừng, phát triển chăn nuôi.
Trong thời gian qua, gia đình anh Cường đã vận động, hỗ trợ trên 50 hộ hội viên nông dân mạnh dạn liên kết tham gia trồng rừng và phát triển chăn nuôi. Từ sự hỗ trợ, chia sẻ về vốn, giống, kinh nghiệm sản xuất, trên địa bàn ngày càng xuất hiện nhiều mô hình kinh tế phù hợp như trồng rừng kết hợp chăn nuôi gà thả đồi; trồng rừng kết hợp chăn nuôi gà và nuôi cá... Nhiều hộ gia đình đã có từ 3 - 10 ha rừng trồng keo, quế, cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Hàng năm, gia đình anh Cường tích cực hỗ trợ từ 20 - 25 hộ cận nghèo, hộ nghèo có thêm điều kiện phát triển sản xuất, từng bước vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống.
Với anh Cường, giúp đỡ hội viên không chỉ là hỗ trợ về vật chất mà quan trọng hơn là chia sẻ cách làm, kinh nghiệm sản xuất và khơi dậy tinh thần tự lực, chủ động vươn lên. Khi người dân cùng liên kết, cùng chia sẻ kinh nghiệm và cùng tìm đầu ra cho sản phẩm, hiệu quả sản xuất sẽ được nâng lên, tạo nền tảng để kinh tế hộ phát triển bền vững.
Mô hình phát triển sản xuất của gia đình anh đã tạo việc làm cho 40 lao động tại địa phương, trong đó có 25 lao động thường xuyên và 15 lao động mùa vụ, với thu nhập bình quân khoảng 7,5 triệu đồng/người/tháng
Từ những cánh rừng đến cuộc sống ấm no
Từ một hộ gia đình mạnh dạn đầu tư sản xuất, mô hình của anh Đỗ Cao Cường đang từng bước tạo sức lan tỏa trong cộng đồng hội viên nông dân xã Thác Bà. Đó là minh chứng sinh động cho hiệu quả của việc phát huy lợi thế địa phương, ứng dụng khoa học kỹ thuật, liên kết sản xuất và phát huy vai trò chủ thể của người nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp.
Điều đáng quý hơn, hiệu quả kinh tế từ trồng rừng và chăn nuôi đang song hành với những giá trị về xã hội và môi trường. Những diện tích đồi núi được phủ xanh không chỉ tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất, việc làm và thu nhập cho người dân mà còn góp phần hạn chế xói mòn, giữ nguồn nước, bảo vệ đất đai và phục hồi môi trường sinh thái.
Từ câu chuyện của anh Đỗ Cao Cường có thể thấy, khi người nông dân biết phát huy lợi thế đất đai, mạnh dạn thay đổi tư duy sản xuất, biết liên kết và hỗ trợ nhau, rừng không chỉ là nguồn tài nguyên mà còn trở thành sinh kế lâu dài. Mỗi cánh rừng được trồng thêm hôm nay vừa tạo giá trị kinh tế cho gia đình, vừa góp phần bảo vệ môi trường và mở ra cơ hội thoát nghèo bền vững cho cộng đồng.
Những cách làm hiệu quả như vậy đang góp phần cụ thể hóa phong trào thi đua yêu nước trong hội viên nông dân, lan tỏa tinh thần “nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”, đóng góp thiết thực vào xây dựng nông thôn ngày càng phát triển, xanh và bền vững.