image banner
Thúc đẩy tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp
Lượt xem: 11
(Cổng ĐT HND)- Thời gian qua, các cấp Hội chú trọng hướng dẫn hội viên, nông dân phát triển các mô hình sản xuất, kinh doanh phù hợp gắn với hỗ trợ về vốn, vật tư, khoa học kỹ thuật, nhằm giúp hội viên nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh, giá trị nông sản trên thị trường, góp phần thúc đẩy tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp.

 

Anh-tin-bai

 

Các cấp Hội đã tích cực hướng dẫn hội viên nông dân xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với trải nghiệm du lịch.

 

Những năm qua, các cấp Hội ND tỉnh Sơn La đã tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động hội viên chuyển đổi tư duy sản xuất từ “nông nghiệp thuần túy” sang “kinh tế nông nghiệp gắn với dịch vụ và du lịch trải nghiệm, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng”. Giai đoạn 2021 - 2025, Hội ND các cấp đã phối hợp hỗ trợ xây dựng trên 639 mô hình về phát triển nông nghiệp sinh thái, du lịch cộng đồng, kỹ năng quảng bá sản phẩm, xây dựng sản phẩm OCOP, chuyển đổi số và thương mại điện tử…


Các cấp Hội đã tích cực hướng dẫn hội viên nông dân xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với trải nghiệm du lịch như: Tham quan đồi chè, vườn mận, vườn xoài, vườn cà phê, vườn cam, trải nghiệm hái quả, du lịch cộng đồng, du lịch lòng hồ, du lịch văn hóa dân tộc… Nhiều mô hình bước đầu phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân. Các điểm du lịch cộng đồng như Hua Tạt, bản Áng, Ngọc Chiến, Tà Xùa, Quỳnh Nhai, Pha Đin Tốp… ngày càng thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Năm 2025, tỉnh Sơn La đón khoảng 5,9 triệu lượt khách du lịch, tổng doanh thu xã hội từ hoạt động du lịch đạt trên 7.300 tỷ đồng. Kết quả đó có sự đóng góp tích cực của hội viên nông dân, hợp tác xã và các mô hình du lịch nông nghiệp sinh thái tại địa phương.


Tại Cà Mau, các cấp Hội chú trọng công tác hỗ trợ, hướng dẫn hội viên, nông dân phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp mới, thực hiện các chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ giữa nông dân và doanh nghiệp trong các lĩnh vực trồng lúa, nuôi thủy sản, chăn nuôi gia cầm, vừa đảm bảo đầu ra ổn định, vừa nâng cao thu nhập. Bên cạnh đó, Hội đã tích cực phối hợp với các ngành, đơn vị liên quan trong việc tư vấn, hỗ trợ hội viên, nông dân xây dựng và phát triển sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của địa phương.


Đến nay nhiều mô hình kinh tế hiệu quả được nhân rộng như: Mô hình nuôi tôm siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao tại các xã Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân, Long Điền, Gành Hào…cho năng suất cao gấp nhiều lần so với nuôi truyền thống; nhiều hộ đạt lợi nhuận hàng chục tỷ đồng/năm. Mô hình tôm - rừng tại xã Ngọc Hiển và Năm Căn vừa tạo sinh kế bền vững vừa góp phần bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn. Đây là mô hình được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao về khả năng thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xanh. Mô hình tôm - lúa tại xã Vĩnh Lộc và Thới Bình phát huy hiệu quả rõ nét trong điều kiện biến đổi khí hậu, giúp giảm chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị trên cùng đơn vị diện tích. 


Nhiều chủ thể OCOP đã mạnh dạn đầu tư chế biến sâu, xây dựng thương hiệu như Muối Bạc Liêu, gạo BL9, mật ong rừng U Minh Hạ, khô cá bổi, cua Cà Mau, bánh phồng tôm…góp phần nâng cao giá trị nông sản địa phương và mở rộng thị trường tiêu thụ. 


Một số hợp tác xã hoạt động hiệu quả như: HTX Ba Đình xã Vĩnh Lộc, HTX Đồng Tiến xã Vĩnh Hậu, HTX Ba Khía, Quách Phẩm, HTX nuôi trồng thủy sản, xã Hưng Mỹ đã từng bước ứng dụng chuyển đổi số, bán hàng qua sàn thương mại điện tử, livestream quảng bá sản phẩm, truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, tạo hướng đi mới cho nông sản Cà Mau. 


Tại An Giang, Hội vận động các chi, tổ Hội nghề nghiệp xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn đạt nhiều kết quả tích cực. Nhiều mô hình đã tạo chuyển biến về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới.


Các cấp Hội đã lựa chọn 100 tổ hợp tác mạnh tham gia Đề án một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp; tham gia cùng ngành nông nghiệp triển khai thí điểm 22 mô hình với diện tích 1.117 ha.


Cùng với đó, Hội đã xây dựng 72 mô hình chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp, 102 mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ; hướng dẫn 11.073 hội viên cài đặt và sử dụng nền tảng số “Nông dân Việt Nam”; hỗ trợ 3.901 hộ nông dân bán nông sản trên sàn thương mại điện tử. 


Đối với mô hình nông nghiệp công nghệ cao, Hội đã vận động hội viên, nông dân tham gia sản xuất lúa chất lượng cao, lúa phát thải thấp, mô hình “1 phải, 5 giảm”, “3 giảm, 3 tăng”, sử dụng thiết bị bay không người lái; ứng dụng tưới tiết kiệm nước, nhà lưới, nhà màng; áp dụng mã số vùng trồng, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc; phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, hệ thống biogas; vận động nuôi thủy sản theo VietGAP, GlobalGAP, ASC, BAP, nuôi tuần hoàn, nuôi biển công nghệ cao. Đối với nông nghiệp tuần hoàn, Hội vận động tận dụng rơm rạ, trấu, phụ phẩm sau thu hoạch làm phân hữu cơ, nấm rơm, thức ăn chăn nuôi hoặc nguyên liệu sinh khối; nhân rộng đệm lót sinh học, hầm biogas, chế phẩm vi sinh; kiểm soát môi trường nước, giảm kháng sinh, giảm hóa chất trong thủy sản.


Triển khai thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”, Hội ND thành phố Cần Thơ đã phối hợp Sở Nông nghiệp và  Môi trường, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long và Trường Đại học Cần Thơ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn chuyên sâu đến từng cơ sở Hội: tổ chức cuộc hội thảo, nhiều lớp tập huấn, chọn mô hình chỉ đạo điểm, lấy người thật việc thật từ một mô hình cụ thể  để thay đổi tư duy, tập quán của hội viên nông dân trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng; từ đó tạo được sự lan toản trong toàn hệ thống Hội. Bằng phương pháp vận động linh hoạt, sát với tình hình thực tế, các cấp Hội đã huy động thành công sự đồng thuận và tham gia tích cực của đông đảo hội viên. Tính đến vụ Thu Đông năm 2025-2026 đã tổ chức triển khai 12 mô hình sản xuất lúa tiêu biểu (quy mô 50 ha/mô hình) tại các Hợp tác xã và Tổ hợp tác, với tổng diện tích đạt 525 ha được hỗ trợ đồng bộ về kỹ thuật, cung ứng vật tư và liên kết đầu ra. Đặc biệt, hiệu ứng từ các mô hình này đã lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy nhiều HTX, THT sản xuất lúa trên địa bàn thành phố tự chủ động ứng dụng các giải pháp canh tác chất lượng cao và giảm phát thải, góp phần hiện thực hóa mục tiêu sản xuất nông nghiệp bền vững. 


Đến nay, hội viên nông dân đã chuyển đổi tư duy canh tác lúa, bước đầu hình thành các vùng chuyên canh áp dụng quy trình “1 phải 5 giảm” và tưới ngập khô xen kẽ (AWD). Nhờ đó, tỷ lệ giảm giống trong vùng sản xuất lúa chất lượng cao từ 30 - 50% tùy vụ, lượng giống gieo sạ giảm xuống còn 80-100kg/ha; lượng phân đạm giảm 30%. Số lần phun thuốc BVTV giảm 2-3 lần; 100% nông hộ thực hiện ngập khô xen kẽ, rút nước ít nhất 1 lần trong vụ; 100% nông hộ rút nước 2 lần giữa vụ và khoảng 78% thực hiện rút nước 3 lần giữa vụ. 


Đáng chú ý, tỷ lệ đưa rơm ra khỏi đồng: Vụ Đông Xuân 50-60 %, vụ Hè Thu 30-40%, vụ Thu Đông 20-30%. Năng suất lúa tại mô hình đạt cao hơn 0,3-0,7 tấn/ha, giá bán cao hơn từ 200-500 đ/kg tùy giống lúa so với nông dân canh tác theo phương thức truyền thống. Kết quả cho thấy mô hình đạt hiệu quả về năng suất, chất lượng, lợi nhuận tăng ít nhất 20% so với ngoài mô hình. Đã có 76.000 ha liên kết với doanh nghiệp để cung ứng vật tư đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra, chủ yếu là vụ Đông Xuân.


Qua theo dõi khoa học, các mô hình điểm đã giảm đáng kể lượng phát thải khí nhà kính, tạo tiền đề cho việc chi trả tín chỉ carbon sau này. Theo kết quả đo đạc phát thải khí nhà kính của Viện Môi trường - Nông nghiệp cho thấy mô hình giảm từ 6-12 tấn CO2/ha nhờ vào giảm phân bón vô cơ, giảm sử dụng thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ, giảm đốt rơm rạ, gia tăng hiệu quả sử dụng rơm rạ từ việc thu gom rơm rạ ra khỏi đồng, giảm cày vùi rơm rạ trong điều kiện ngập nước.


Ngoài ra, mô hình kinh tế tuần hoàn từ rơm được xây dựng và phát triển. Mô hình tận dụng được toàn bộ phụ phẩm rơm rạ để trồng nấm, sau khi thu hoạch nấm xong, phụ phẩm từ việc trồng nấm rơm được tận dụng để sản xuất phân hữu cơ cung cấp cho đất và cây trồng. Kết quả cho thấy nông dân thu nhập tăng thêm 33 triệu/ha/3 vụ từ mô hình kinh tế tuần hoàn từ rơm. Bên cạnh đó phân hữu cơ được sản xuất từ rơm rạ được sử dụng phục vụ sản xuất lúa an toàn bền vững, trồng hoa kiểng và một số loại rau màu, giúp giảm được 30-40% lượng đạm vô cơ nguyên chất.


Tại thành phố Hồ Chí Minh, Hội ND Thành phố đã phối hợp triển khai hiệu quả nhiều mô hình ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất như: Ứng dụng công nghệ nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới tự động, cảm biến môi trường trong sản xuất rau an toàn, hoa lan, cây kiểng; ứng dụng công nghệ sinh học trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và xử lý môi trường; ứng dụng thiết bị bay không người lái, hệ thống giám sát tự động, nhật ký điện tử trong sản xuất; xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với phát triển sản phẩm OCOP; hỗ trợ hội viên xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ sản phẩm trên môi trường số.


Nhiều mô hình do Hội hỗ trợ đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm lao động, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Một số hộ nông dân mạnh dạn ứng dụng thương mại điện tử, livestream bán hàng, quảng bá sản phẩm trên nền tảng số, từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ.


Hiện toàn Thành phố có 692 cơ sở sản xuất ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt với diện tích gieo trồng hơn 18.432 ha; trong đó diện tích canh tác trực tiếp đạt 13.499 ha. Các mô hình ứng dụng tập trung vào nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới tiết kiệm kết hợp điều tiết dinh dưỡng tự động, thủy canh, aquaponics, cảm biến nhiệt độ, độ ẩm và sử dụng điện năng lượng mặt trời. Thành phố cũng đã hình thành 02 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được chứng nhận. 


Trong lĩnh vực chăn nuôi, toàn thành phố hiện có 734 trang trại ứng dụng công nghệ cao với quy mô khoảng 11,83 triệu con gia súc, gia cầm. Các mô hình ứng dụng hệ thống làm mát tự động, cảm biến môi trường, kiểm soát dịch bệnh và quy trình chăn nuôi khép kín đã góp phần nâng cao năng suất, bảo đảm an toàn sinh học và giảm chi phí sản xuất. 


Đối với lĩnh vực thủy sản, thành phố đã phát triển 50 cơ sở nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao với diện tích gần 56 ha, sản lượng ước đạt 1.819 tấn; đồng thời triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử (eCDT), nhật ký khai thác điện tử (eLogbook) và giám sát hành trình tàu cá trên nền tảng số nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nghề cá và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.


Đến nay, Hội Nông dân các cấp đã tích cực phối hợp với doanh nghiệp, nhà khoa học hướng dẫn, hỗ trợ hội viên nông dân xây dựng và nhân rộng 7.633 mô hình điểm theo hướng sinh thái, nông nghiệp xanh và ứng dụng công nghệ cao; hỗ trợ xây dựng, phát triển 1.502 mô hình hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị; tích cực hỗ trợ, hướng dẫn hội viên tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), đã hỗ trợ xây dựng 2.396 sản phẩm OCOP được công nhận đạt từ 3 sao trở lên. Qua đó, thúc đẩy tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, góp phần nâng cao sức cạnh tranh, giá trị nông sản trên thị trường, thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững.

Tuấn Hưng
Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1