Vị giáo sư là cộng sự gần gũi của Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trí thức yêu nước tiêu biểu trong thế kỷ XX
Từng là cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, giáo sư Hoàng Minh Giám ghi dấu ấn trên lĩnh vực giáo dục, ngoại giao và là một trong những trí thức tiêu biểu nhất của Việt Nam thế kỷ XX.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng và Hoàng Minh Giám gặp gỡ Việt kiều nhân chuyến sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, năm 1946. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
Giáo sư Hoàng Minh Giám - một trong những trí thức tiêu biểu nhất thế kỷ XX, từng bị đưa vào diện "không nên để ở Hà Nội"
Giáo sư Hoàng Minh Giám sinh ngày 4/11/1904 tại làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm cũ, nay là phường Đông Ngạc, TP.Hà Nội. Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống yêu nước và hiếu học. Thân phụ ông là Phó bảng Hoàng Tăng Bí, một trong những sáng lập viên, đồng thời là giảng viên của Đông Kinh Nghĩa Thục.
Cụ Hoàng Tăng Bí đã hoạt động tích cực chống chủ nghĩa thực dân nên bị thực dân Pháp kết án tù biệt xứ, sau đó bị đưa về quản thúc ở Huế. Thân mẫu của Hoàng Minh Giám là con gái Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục, vị quan dưới triều vua Thành Thái và Duy Tân.
Ngay từ những năm tháng tuổi trẻ, dưới ảnh hưởng của người cha, Hoàng Minh Giám đã sớm hình thành tinh thần yêu nước và ý thức đấu tranh. Khi còn học tại Quốc học Huế, ông tham gia bãi khóa để phản đối một giáo sư người Pháp có hành vi đối xử khắc nghiệt với học sinh.
Sau này, trong thời gian học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, ông tiếp tục tham gia phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu và tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Những hoạt động này cho thấy tinh thần dân tộc và ý thức xã hội của Hoàng Minh Giám đã được hình thành khá sớm.
Thuở nhỏ, Hoàng Minh Giám học tại Huế, sau đó ra Hà Nội tiếp tục con đường học vấn. Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương khóa II, ông được nhà chức trách Pháp đưa vào diện những người “không nên để ở Hà Nội” và điều sang Campuchia giảng dạy tại Trường Trung học Sisowath.
Trong thời gian ở Campuchia, Hoàng Minh Giám tham gia viết bài cho một số tờ báo tiếng Pháp có khuynh hướng phản đối chế độ thực dân. Những hoạt động này khiến ông bị buộc thôi việc. Trở về Sài Gòn, ông tiếp tục nghề dạy học tại các trường tư thục, đồng thời tham gia hoạt động báo chí.
Năm 1932, Hoàng Minh Giám trở lại Hà Nội và giảng dạy tại Trường Tư thục Gia Long. Ba năm sau, ông cùng những trí thức yêu nước, tiến bộ như Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Phạm Vũ Ninh thành lập Trường Tư thục Thăng Long và đảm nhiệm cương vị hiệu trưởng.
Thăng Long nhanh chóng trở thành một trung tâm giáo dục quy tụ đông đảo trí thức có tư tưởng tiến bộ. Nhiều học sinh của trường tích cực tham gia các hoạt động yêu nước, sau này trưởng thành và trở thành những cán bộ giữ nhiều trọng trách trong Đảng, Nhà nước và Quân đội.
Không chỉ là một nhà giáo, Hoàng Minh Giám còn là một trong những trí thức tiêu biểu nhất của Việt Nam thế kỷ XX. Ông dành nhiều tâm huyết cho việc tập hợp, động viên và tạo điều kiện để đội ngũ trí thức phát huy năng lực, đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập cũng như xây dựng, bảo vệ đất nước.
Giáo sư Hoàng Minh Giám - Người cộng sự gần gũi của Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hoàng Minh Giám được giao nhiều trọng trách trong chính quyền, Quốc hội và các đoàn thể nhân dân. Trong những năm đầu của chính quyền cách mạng, khi đất nước đứng trước tình thế đặc biệt khó khăn, ông trở thành một trong những cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Ngay sau khi từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã mời Hoàng Minh Giám tham gia Chính phủ Lâm thời. Ngày 30/8/1945, Đại tướng Võ Nguyên Giám - Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký Sắc lệnh số 1, cử ông giữ chức Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ. Cũng trong ngày này, Hoàng Minh Giám cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Thiếu tá tình báo Mỹ Archimedes L.A. Patti - Trưởng phái bộ OSS tại Việt Nam.
Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 6/1/1946, Hoàng Minh Giám trúng cử đại biểu Quốc hội và được giao làm Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I. Từ đó, ông liên tục được nhân dân tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội qua nhiều khóa. Đến khóa VII, năm 1987, do tuổi cao, sức yếu, ông xin không tiếp tục ứng cử.
Với khả năng ngoại giao, vốn kiến thức rộng và sự am hiểu tình hình quốc tế, Hoàng Minh Giám được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao tham gia nhiều nhiệm vụ đối ngoại quan trọng. Ông có mặt bên Người trong những thời điểm mang tính bước ngoặt, trong đó có các cuộc tiếp xúc, đàm phán với Jean Sainteny, đại diện Chính phủ Pháp, góp phần chuẩn bị cho việc ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946.
Ông cũng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc hội kiến với Đô đốc kiêm Cao ủy Pháp tại Đông Dương Georges Thierry d'Argenlieu ở vịnh Hạ Long. Những cuộc tiếp xúc này góp phần dẫn tới quyết định triệu tập Hội nghị trù bị Việt - Pháp tại Đà Lạt, tạo tiền đề cho Hội nghị Fontainebleau sau đó. Hoàng Minh Giám tiếp tục là thành viên Chính phủ tham dự Hội nghị Fontainebleau tại Pháp năm 1946.
Ngày 19/12/1946, trong bối cảnh quan hệ Việt - Pháp đứng trước nguy cơ đổ vỡ hoàn toàn, Hoàng Minh Giám là người chuyển bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Jean Sainteny. Phía Sainteny không tiếp nhận bức thư. Đêm hôm đó, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ.
Nhà ngoại giao xuất sắc trên mặt trận đối ngoại
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hoàng Minh Giám tiếp tục phát huy vai trò của một nhà ngoại giao giàu kinh nghiệm. Trên cương vị Bộ trưởng Ngoại giao, ông tham gia tham mưu cho Đảng và Nhà nước về nhiều chủ trương đối ngoại quan trọng, góp phần phá thế bao vây, cô lập và mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam.
Một trong những dấu mốc quan trọng là việc Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Những quan hệ đối ngoại này tạo thêm điều kiện để nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phá thế bao vây, từng bước mở rộng quan hệ với thế giới và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến.
Đầu năm 1950, Việt Nam ghi dấu những bước tiến quan trọng trên mặt trận ngoại giao khi lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và Liên Xô. Ngày 18/1/1950 trở thành một dấu mốc quan trọng trong quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc - Liên Xô. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bên cạnh đường lối lãnh đạo của Đảng, tinh thần chiến đấu của quân và dân Việt Nam, sự ủng hộ về vật chất và tinh thần từ Trung Quốc, Liên Xô cũng có ý nghĩa quan trọng.
Trong bối cảnh đó, Giáo sư Hoàng Minh Giám viết bài “Tình hữu nghị Việt - Trung - Xô”, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng trao đổi, hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, qua đó tăng cường hiểu biết, củng cố đoàn kết giữa các dân tộc và góp phần xây dựng một mặt trận vì hòa bình. Tư tưởng xuyên suốt trong bài viết là mong muốn thúc đẩy quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác giữa Việt Nam với nhân dân các nước, hướng tới hòa bình và tiến bộ.
Tháng 4/1955, Hội nghị Bandung diễn ra tại Indonesia với sự tham dự của đại diện 29 quốc gia châu Á và châu Phi. Hội nghị tập trung thảo luận những vấn đề cấp thiết của thời đại như độc lập dân tộc, bình đẳng giữa các quốc gia, chung sống hòa bình, hợp tác hữu nghị, chống phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa thực dân và các cuộc chiến tranh xâm lược.
Tham dự Hội nghị với tư cách Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam, Bộ trưởng Hoàng Minh Giám có bài phát biểu thể hiện quan điểm ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc Á - Phi, đề cao quyền bình đẳng giữa các quốc gia, phản đối chiến tranh xâm lược và ủng hộ nguyên tắc chung sống hòa bình, hợp tác quốc tế.
Ông nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của Hội nghị khi lần đầu tiên các quốc gia Á - Phi cùng lên tiếng một cách chính thức, khẳng định quyền tự quyết đối với vận mệnh của chính mình. Từ tinh thần Bandung, Hoàng Minh Giám kêu gọi tăng cường đoàn kết quốc tế, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và thúc đẩy mục tiêu loại bỏ chủ nghĩa thực dân.
Những phát biểu của ông tại Bandung góp phần giới thiệu lập trường và thiện chí của Việt Nam với cộng đồng quốc tế, đồng thời củng cố quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam với các dân tộc châu Á, châu Phi.
Cuối thập niên 1970, quan hệ của Việt Nam với Campuchia và Trung Quốc có nhiều biến động, trong khi quan hệ đối ngoại của Việt Nam với một số quốc gia khác cũng đứng trước không ít khó khăn.
Trong bối cảnh đó, Giáo sư Hoàng Minh Giám, khi giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban Việt Nam đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước đã viết bài “Mở rộng quan hệ với anh em bạn bè năm châu”. Qua bài viết, ông truyền tải quan điểm về đối ngoại nhân dân, nhấn mạnh yêu cầu mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước, không phân biệt chế độ xã hội, trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau.
Quan điểm này thể hiện nhất quán tư tưởng của Hoàng Minh Giám về vai trò của ngoại giao nhân dân: tăng cường hiểu biết, củng cố tình hữu nghị và mở rộng hợp tác quốc tế, góp phần tạo môi trường hòa bình cho đất nước.
Với phong thái của một trí thức uyên bác, lịch lãm và khả năng ngoại giao khéo léo, Hoàng Minh Giám tham dự nhiều hội nghị quốc tế quan trọng, đồng thời nhiều lần tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các chuyến công tác đối ngoại.
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ trên mặt trận đối ngoại, đại diện Việt Nam tham dự các hội nghị quốc tế và thăm nhiều quốc gia ở châu Á, châu Âu, châu Phi và Mỹ Latinh. Qua đó, ông tiếp tục đóng góp vào việc mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Từ năm 1946 đến 1954, Hoàng Minh Giám giữ nhiều trọng trách trên mặt trận đối ngoại, góp phần vào việc ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, tham dự Hội nghị Fontainebleau và trực tiếp giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tạm ước Việt - Pháp ngày 14/9/1946. Ông cũng là một trong những người sáng lập Đảng Xã hội Việt Nam, sau đó giữ cương vị Bộ trưởng Ngoại giao đến năm 1954.
Sau Hiệp định Genève, ông lần lượt đảm nhiệm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, Bộ trưởng Bộ Văn hóa và là Hiệu trưởng đầu tiên Trường Đại học Nhân dân. Năm 1976, ông được Quốc hội khóa VI cử làm Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại.
Trên mặt trận đoàn kết dân tộc, Hoàng Minh Giám tham gia Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam từ năm 1955 và liên tục đảm nhiệm cương vị này qua nhiều kỳ đại hội, trước khi được cử làm Ủy viên danh dự tại Đại hội IV năm 1994.
Với nhiều công lao và những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng, Giáo sư Hoàng Minh Giám đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất... cùng nhiều phần thưởng cao quý khác của các bộ, ngành trong nước và quốc tế. Tên ông đã được đặt cho một đường phố ở Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
(Nguồn tham khảo: Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Báo Đại biểu nhân dân, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam)