image banner
Chi sai chế độ theo Nghị định 178: Cán bộ “hoàn thành tốt nhiệm vụ” bị cho nghỉ sai liệu có cơ hội đi làm lại?
Lượt xem: 44
Trong cuộc trao đổi với PV Dân Việt, Đại biểu quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, việc Kiểm toán chỉ ra hàng loạt trường hợp bị cho nghỉ việc theo Nghị định 178 vì "không đáp ứng yêu cầu" nhưng hồ sơ đánh giá vẫn xếp loại "hoàn thành tốt nhiệm vụ", cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu phương án khắc phục phù hợp, trong đó có thể xem xét việc phục hồi chức vụ, vị trí công tác... nhưng phải hết sức thận trọng, căn cứ từng trường hợp cụ thể.
Anh-tin-bai
Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Ảnh: Q.H

Chi sai chế độ theo Nghị định 178: Cần phân loại rõ bản chất và mức độ lỗi

Vừa qua, Kiểm toán Nhà nước đã chỉ ra nhiều vi phạm trong việc chi sai chế độ, chính sách theo Nghị định 178 của Chính phủ. Trước những vấn đề được phát hiện, Bộ Nội vụ đã yêu cầu các bộ, địa phương rà soát toàn bộ các trường hợp đã nghỉ việc và hưởng chế độ theo Nghị định số 178/2024 và Nghị định số 67/2025. Về vấn đề này bà đánh giá thế nào?

- Trước hết, tôi cho rằng cần nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan, thận trọng và đúng bản chất. Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2025/NĐ-CP, là một chính sách lớn, kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động chịu tác động trực tiếp của quá trình sắp xếp. Chính sách đã góp phần tháo gỡ một khối lượng công việc rất lớn về tổ chức và nhân sự, tạo điều kiện để bộ máy mới sớm đi vào hoạt động ổn định. Vì vậy, không thể từ những sai sót được phát hiện qua kiểm toán chọn mẫu mà phủ nhận ý nghĩa, tính nhân văn hoặc kết quả chung của chính sách.

Tuy nhiên, đây là chính sách sử dụng nguồn lực ngân sách rất lớn, tác động trực tiếp đến chất lượng đội ngũ và niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân. Bất kỳ sự tùy tiện nào trong xác định đối tượng, thẩm định hồ sơ hay tính toán mức hưởng đều phải được kiểm tra, làm rõ. Việc Kiểm toán Nhà nước chỉ ra những bất cập tại một số cơ quan, địa phương và việc Bộ Nội vụ yêu cầu rà soát tổng thể là cần thiết, đúng với yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phòng, chống thất thoát, lãng phí trong quá trình sắp xếp bộ máy.

Cũng cần nói chính xác rằng Báo cáo số 1212/BC - KTNN được xây dựng trên cơ sở kiểm toán chọn mẫu. Trong số các nội dung được nêu có trường hợp đã thể hiện việc tính sai, chi thừa; có trường hợp hồ sơ thiếu căn cứ; có trường hợp mới cho thấy rủi ro xác định chưa đúng đối tượng. Do đó, rà soát phải đến từng hồ sơ, từng quyết định, đối chiếu với quy định có hiệu lực tại thời điểm giải quyết; không suy diễn từ sai sót của một số đơn vị thành sai phạm của cả hệ thống, cũng không mặc nhiên coi tất cả người đã nhận chế độ là có lỗi. Mục tiêu cuối cùng là bảo đảm đúng đối tượng, đúng chính sách, thu hồi đầy đủ khoản chi sai, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người thụ hưởng ngay tình và giữ ổn định tư tưởng trong đội ngũ.

Bà nhìn nhận những sai sót này ra sao?

- Theo tôi, các sai sót phải được phân loại theo bản chất, nguyên nhân và mức độ lỗi, không thể xử lý theo một công thức đồng loạt. Có thể nhận diện ít nhất ba nhóm.

Nhóm thứ nhất là sai sót phát sinh do quy định và hướng dẫn được ban hành, điều chỉnh trong thời gian rất ngắn; phạm vi đối tượng rộng; tổ chức bộ máy, địa giới và hồ sơ quản lý đồng thời được chuyển giao. Ở một số nơi, tiêu chí đánh giá chưa kịp cụ thể hóa, cách hiểu về đối tượng, thời điểm nghỉ, tiền lương làm căn cứ hoặc nguồn kinh phí chưa thống nhất. Nếu cơ quan, cá nhân đã làm việc công khai, không vụ lợi, chủ động xin ý kiến nhưng vẫn áp dụng chưa đúng thì cần xác định đây chủ yếu là hạn chế về nhận thức, năng lực thực thi hoặc phối hợp; phải khắc phục hậu quả, chấn chỉnh quy trình và xem xét trách nhiệm tương xứng với mức độ lỗi.

Nhóm thứ hai là vi phạm do thiếu trách nhiệm: không rà soát toàn bộ đội ngũ; lập hồ sơ thiếu tài liệu; thẩm định hình thức; không đối chiếu dữ liệu bảo hiểm, tiền lương, vị trí việc làm; hoặc biết hồ sơ có mâu thuẫn nhưng không kiểm tra đến cùng. Những trường hợp này không thể chỉ giải thích là “hiểu chưa rõ”, bởi người thực thi công vụ có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm về nội dung tham mưu, thẩm định, phê duyệt.

Nhóm thứ ba là hành vi cố ý: hợp thức hóa hồ sơ, cố tình đưa người không thuộc diện được hưởng vào danh sách, thay đổi thời điểm hoặc dữ liệu để nâng mức hưởng, thông đồng, vụ lợi hay trục lợi chính sách. Nếu có tài liệu chứng minh động cơ và hành vi cố ý thì phải xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật; tùy tính chất, mức độ có thể xử lý kỷ luật, xử phạt, bồi thường hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm hình sự.

Sự phân định này rất quan trọng. Nghiêm minh không đồng nghĩa với quy kết; nhân văn cũng không có nghĩa là bỏ qua vi phạm. Phải dựa vào chứng cứ, thẩm quyền, trình tự pháp luật và bảo đảm quyền giải trình của người có liên quan.

Với những khoản tiền đã chi sai chính sách, theo bà, nguyên tắc xử lý nên thế nào?

- Nguyên tắc trước hết là bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật và kỷ luật tài chính. Luật Ngân sách nhà nước quy định khoản chi ngân sách không đúng pháp luật phải được thu hồi đầy đủ, kịp thời; đồng thời nghiêm cấm chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức hoặc không đúng mục đích. Vì vậy, sau khi có kết luận có thẩm quyền, phần kinh phí chi sai phải được xác định chính xác và thu hồi về đúng nguồn, không thể vì đã chi xong hoặc vì khó thu hồi mà hợp thức hóa.

Nhưng thu hồi tiền chỉ là một phần của việc xử lý. Cần bảo đảm bốn yêu cầu. Thứ nhất, kết luận đối với từng hồ sơ, không thu hồi theo danh sách chung hoặc chỉ dựa trên dấu hiệu ban đầu.

Thứ hai, chỉ thu hồi đúng phần chi sai: nếu đúng đối tượng nhưng sai phép tính thì điều chỉnh phần chênh lệch; nếu sai nguồn thì hoàn trả, điều chỉnh giữa các nguồn theo quy định; chỉ khi không thuộc đối tượng mới đặt vấn đề hủy quyết định và thu hồi khoản đã hưởng không đúng.

Thứ ba, bảo đảm quyền được thông báo, giải trình, khiếu nại, khởi kiện của người có liên quan theo pháp luật.

Thứ tư, xác định trách nhiệm trên toàn bộ chuỗi công vụ, từ cơ quan trực tiếp lập danh sách, cơ quan nội vụ, tài chính, người thẩm định, người phê duyệt đến đơn vị thanh toán.

Đặc biệt, phải phân biệt người hưởng chế độ ngay tình với người cố ý cung cấp thông tin sai hoặc thông đồng để hưởng lợi. Trường hợp người nhận đã kê khai trung thực, hồ sơ do cơ quan có thẩm quyền lập, thẩm định và phê duyệt nhưng sau đó phát hiện cơ quan áp dụng pháp luật chưa đúng, khoản chi sai vẫn phải được xử lý theo pháp luật ngân sách; song phương thức, lộ trình thu hồi và trách nhiệm cá nhân phải thấu tình, đạt lý, tránh dồn toàn bộ hậu quả cho người không có lỗi. Ngược lại, nếu có hành vi gian dối, che giấu hoặc trục lợi thì phải thu hồi triệt để và xử lý nghiêm.

Bà có giải pháp nào hay đề xuất nào để thu hồi lại tiền đã chi sai mục đích?

- Theo tôi, việc thu hồi cần được tổ chức thành một quy trình thống nhất, minh bạch và có thể kiểm soát. Trước hết, mỗi bộ, ngành, địa phương phải lập danh mục hồ sơ theo các nhóm: đúng chế độ; thiếu hồ sơ cần bổ sung; sai mức hưởng; sai nguồn; sai đối tượng; có dấu hiệu cố ý hoặc trục lợi. Mỗi khoản phải có bảng đối chiếu giữa quyết định nghỉ, tiền lương và phụ cấp làm căn cứ, thời gian công tác, thời gian đóng bảo hiểm xã hội, nguồn chi, số đã nhận và số phải điều chỉnh. Việc đối soát nên thực hiện trên dữ liệu liên thông giữa cơ quan nội vụ, tài chính, bảo hiểm xã hội và Kho bạc Nhà nước để hạn chế sai số và tránh thu trùng.

Sau khi có kết luận, cơ quan đã ban hành quyết định phải xử lý quyết định hành chính theo đúng thẩm quyền: sửa đổi, thay thế hoặc hủy bỏ phần trái pháp luật; ban hành quyết định thu hồi nêu rõ căn cứ, số tiền, thời hạn, phương thức nộp và quyền khiếu nại. Trường hợp sai số học hoặc chi thừa một phần thì thu hồi phần chênh lệch. Trường hợp sai nguồn nhưng người hưởng đúng đối tượng, cần ưu tiên xử lý quan hệ ngân sách giữa các đơn vị, không biến sai sót của cơ quan thành nghĩa vụ bất hợp lý của người thụ hưởng.

Đối với người phải hoàn trả nhưng không có hành vi gian dối, khoản tiền lớn đã được sử dụng để ổn định cuộc sống sau khi nghỉ việc, pháp luật nên được áp dụng theo hướng cho phép xây dựng lộ trình nộp hợp lý trong phạm vi thẩm quyền, tránh gây xáo trộn quá mức nhưng không làm thất thoát ngân sách. Với trường hợp cố tình không chấp hành quyết định có hiệu lực, phải áp dụng đầy đủ các biện pháp thu hồi theo pháp luật. Nếu có dấu hiệu làm giả tài liệu, thông đồng, vụ lợi hoặc chiếm đoạt thì chuyển hồ sơ đến cơ quan kiểm tra, thanh tra hoặc cơ quan tiến hành tố tụng.

Cùng với thu hồi tiền, cần công khai kết quả tổng hợp, nguyên nhân và trách nhiệm, nhưng phải bảo vệ dữ liệu cá nhân và không công khai danh tính khi chưa có kết luận. Một cơ chế thu hồi tốt phải thu đúng, thu đủ, đúng người, đúng lỗi và có khả năng kiểm chứng.

Cán bộ "hoàn thành tốt nhiệm" vụ bị cho nghỉ sai liệu có cơ hội đi làm lại?

Mục đích của việc sắp xếp, tổ chức bộ máy là giảm bớt những người không đáp ứng được công việc. Tuy nhiên, báo cáo của Kiểm toán Nhà nước về triển khai thực hiện Nghị định 178 cho thấy nhiều người được xếp loại “hoàn thành tốt nhiệm vụ” ba năm liên tiếp nhưng khi đánh giá để phê duyệt nghỉ chế độ lại bị xác định là “không đáp ứng được công việc”. Qua đây cho thấy việc xếp loại, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, viên chức vẫn còn nhiều điểm cần xem xét. Bà thấy vấn đề này thế nào?

- Đây là một dấu hiệu cho thấy công tác đánh giá cán bộ ở một số nơi còn nặng tính hình thức, chưa phản ánh đầy đủ kết quả và năng lực thực chất. Nếu ba năm liên tiếp một người được xác nhận “hoàn thành tốt nhiệm vụ” hoặc “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, nhưng khi sắp xếp lại bị kết luận là "không đáp ứng yêu cầu công việc" mà không có căn cứ mới, cụ thể và thuyết phục, thì giữa hai kết quả đánh giá đang có mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó phải được giải trình, không thể dùng một kết luận chung chung để làm căn cứ chi một khoản ngân sách lớn hoặc chấm dứt quan hệ công vụ.

Tuy nhiên, cũng cần phân biệt hai hệ quy chiếu. Đánh giá hằng năm phản ánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ ở vị trí cũ; còn đánh giá phục vụ sắp xếp phải xem xét khả năng đáp ứng vị trí việc làm sau tổ chức lại, bao gồm chuyên môn, kỹ năng, kết quả sản phẩm, khả năng đổi mới, thích ứng và yêu cầu cơ cấu đội ngũ. Vì vậy, một người hoàn thành tốt ở vị trí cũ vẫn có thể không đáp ứng một vị trí mới có tiêu chuẩn khác. Nhưng sự khác biệt này chỉ hợp pháp và thuyết phục khi tiêu chuẩn vị trí mới đã được xác định rõ, tiêu chí đánh giá được ban hành đúng thẩm quyền, công khai, áp dụng thống nhất và có tài liệu chứng minh.

Điều 6 Nghị định 178 đặt trách nhiệm cho tập thể cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu phải rà soát tất cả cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý trên cơ sở kết quả ba năm gần nhất và các tiêu chí cụ thể. Chủ trương của Đảng về tinh gọn bộ máy không phải giảm người một cách cơ học, càng không phải tạo điều kiện để người làm tốt rời hệ thống, mà là gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ, lựa chọn và giữ lại người có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Do đó, cần đổi mới căn bản việc đánh giá cán bộ theo vị trí việc làm và sản phẩm đầu ra; khắc phục tình trạng gần như ai cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Kết quả đánh giá phải có dữ liệu, sản phẩm, tiến độ và mức độ hài lòng làm căn cứ; phải có cơ chế giải trình khi kết quả giữa các kỳ mâu thuẫn. Đây không chỉ là vấn đề của chế độ 178 mà là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng quản trị công vụ.

Với trường hợp “hoàn thành tốt nhiệm vụ” hoặc “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” nếu nghỉ sai và pháp luật cho phép, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu phương án khắc phục phù hợp, trong đó có thể xem xét việc phục hồi chức vụ, vị trí công tác hoặc bố trí công tác phù hợp với yêu cầu tổ chức bộ máy. Bà thấy ý kiến này thế nào?

- Tôi cho rằng đây là đề xuất cần được xem xét, nhưng phải hết sức thận trọng, căn cứ từng trường hợp và không thể mặc nhiên phục hồi chức vụ hoặc bố trí trở lại chỉ vì trước đó người đó được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trước hết, cơ quan có thẩm quyền phải kết luận rõ quyết định nghỉ sai ở điểm nào: sai đối tượng, sai quy trình, sai căn cứ đánh giá hay chỉ sai mức tiền; người nghỉ có thực sự mong muốn trở lại hay không; vị trí cũ còn tồn tại không; bộ máy mới còn nhu cầu và biên chế không; người đó có đáp ứng tiêu chuẩn của vị trí hiện nay hay không.

 

Nếu quyết định nghỉ bị xác định trái pháp luật và người lao động không có lỗi, nguyên tắc là phải khôi phục tối đa quyền, lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng. Cơ quan có thẩm quyền cần xử lý hoặc hủy bỏ quyết định sai theo đúng trình tự; xem xét bố trí công tác phù hợp với vị trí việc làm, chỉ tiêu biên chế, cơ cấu tổ chức và nguyện vọng của cá nhân; giải quyết đồng bộ các quan hệ về tiền lương, bảo hiểm xã hội và khoản trợ cấp đã nhận. Trường hợp vị trí cũ đã bị xóa bỏ hoặc chức vụ đã được kiện toàn thì không nên hiểu “khôi phục” một cách máy móc; có thể bố trí vị trí tương đương hoặc phù hợp, nhưng phải tuân thủ điều kiện, tiêu chuẩn và thẩm quyền về công tác cán bộ.

Riêng việc phục hồi chức vụ lãnh đạo, quản lý càng phải chặt chẽ, bởi chức vụ không chỉ là quyền lợi cá nhân mà gắn với cơ cấu tổ chức, quy trình cán bộ, tiêu chuẩn, tín nhiệm và quyết định của cấp có thẩm quyền. Không thể chỉ dựa vào kết quả xếp loại hằng năm để tự động khôi phục.

Ngược lại, nếu cá nhân tự nguyện xin nghỉ, đã được giải quyết đúng đối tượng và đúng pháp luật thì việc từng được đánh giá hoàn thành tốt không phải căn cứ để hủy quyết định. Cũng cần lưu ý rằng mục tiêu rà soát là sửa quyết định sai và bảo vệ quyền hợp pháp, chứ không tạo ra một đợt xáo trộn nhân sự mới. Mỗi phương án phải đặt trong yêu cầu ổn định, tinh gọn và nâng cao chất lượng của bộ máy sau sắp xếp.

Vai trò của hậu kiểm khi chính sách được triển khai

Bà đánh giá thế nào về vai trò của hậu kiểm sau khi chính sách được triển khai?

- Hậu kiểm có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là với một chính sách được triển khai trên phạm vi rộng, trong thời gian ngắn và sử dụng nguồn ngân sách lớn. Tiền kiểm giúp ngăn sai ngay từ đầu, nhưng trong bối cảnh vừa sắp xếp tổ chức, vừa chuyển giao hồ sơ, vừa giải quyết số lượng lớn cán bộ nghỉ việc, không một quy trình tiền kiểm nào có thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro. Hậu kiểm vì thế là lớp bảo đảm để phát hiện sai lệch hệ thống, thu hồi khoản chi không đúng và điều chỉnh cách thực hiện.

Quan trọng hơn, hậu kiểm không chỉ để “tìm người sai”. Qua kiểm toán lần này có thể nhận diện những điểm yếu của quản trị công vụ: tiêu chí đánh giá chưa rõ; dữ liệu về biên chế, tiền lương, bảo hiểm chưa liên thông; trách nhiệm giữa cơ quan lập hồ sơ, thẩm định và phê duyệt còn đan xen; việc bàn giao hồ sơ sau sáp nhập có nơi chưa đầy đủ. Nếu chỉ thu hồi một số khoản tiền mà không sửa những lỗ hổng này thì nguy cơ sai phạm sẽ lặp lại.

Hậu kiểm cũng là một hình thức kiểm soát quyền lực. Quyền quyết định ai ở lại, ai nghỉ và ai được hưởng khoản trợ cấp lớn tác động rất sâu sắc đến con người và ngân sách, nên phải được giám sát bằng hồ sơ, dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Qua đó, cán bộ thực thi hiểu rằng quyết định dù được ban hành trong thời điểm gấp vẫn phải đúng thẩm quyền, đúng đối tượng và có thể kiểm chứng.

Tuy nhiên, hậu kiểm phải tuân thủ pháp luật, khách quan và không tạo tâm lý bất an trên diện rộng. Cần công bố rõ phạm vi kiểm tra, tiêu chí kết luận và kết quả xử lý; phân biệt sai sót với hành vi cố ý; bảo vệ người phản ánh và người thụ hưởng ngay tình. Làm tốt hậu kiểm sẽ củng cố niềm tin vào chính sách, chứ không làm giảm niềm tin vào chủ trương sắp xếp bộ máy.

Chủ trương của Đảng về tinh gọn bộ máy không phải giảm người một cách cơ học, càng không phải tạo điều kiện để người làm tốt rời hệ thống, mà là gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ, lựa chọn và giữ lại người có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Đại biểu Quốc hội khoá XVI

Vậy làm thế nào để hạn chế những sai sót tương tự trong thời gian tới, thưa bà?

- Theo tôi, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp.

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện và hệ thống hóa hướng dẫn. Với chính sách phức tạp, không nên để mỗi địa phương tự diễn giải những khái niệm cốt lõi như “chịu tác động trực tiếp”, “dôi dư”, “không đáp ứng vị trí việc làm”, thời điểm tính hưởng, tiền lương làm căn cứ và nguồn kinh phí. Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần có bộ câu hỏi - đáp, tình huống mẫu và cơ chế trả lời thống nhất, kịp thời; trường hợp còn cách hiểu khác nhau phải xin ý kiến trước khi quyết định chi.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình bằng dữ liệu. Mỗi hồ sơ phải được kiểm tra tự động giữa quyết định nhân sự, vị trí việc làm, quá trình tiền lương, bảo hiểm xã hội và nguồn ngân sách. Hệ thống cần cảnh báo các trường hợp như đã đủ điều kiện nghỉ ở thời điểm trước, vẫn nhận lương sau ngày nghỉ, phụ cấp không thuộc căn cứ tính hưởng, người thuộc đơn vị không trực tiếp sắp xếp hoặc đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhưng tiếp tục được tính khoản hỗ trợ không phù hợp.

Thứ ba, đổi mới thực chất việc đánh giá cán bộ. Tiêu chí phải được ban hành trước khi đánh giá, có trọng số, sản phẩm và bằng chứng; lấy ý kiến tập thể cấp ủy, lãnh đạo và công khai cho người được đánh giá. Việc lựa chọn phải trên cơ sở rà soát toàn bộ đội ngũ, không chỉ những người có đơn xin nghỉ. Kết quả ba năm gần nhất là dữ liệu quan trọng; nếu kết luận khác thì phải giải trình bằng yêu cầu cụ thể của vị trí sau sắp xếp.

Thứ tư, phân định và cá thể hóa trách nhiệm. Người lập hồ sơ chịu trách nhiệm về dữ liệu; cơ quan nội vụ chịu trách nhiệm về đối tượng và quy trình; cơ quan tài chính chịu trách nhiệm về nguồn, mức chi; người đứng đầu chịu trách nhiệm về quyết định cuối cùng. Không để tình trạng trách nhiệm tập thể trở thành không ai chịu trách nhiệm. Đồng thời, phải bảo vệ người dám báo cáo vướng mắc, chủ động sửa sai và không vụ lợi; xử lý nghiêm hành vi hợp thức hóa hồ sơ, thông đồng, che giấu hoặc trục lợi.

Thứ năm, thiết lập hậu kiểm theo rủi ro, kiểm toán dữ liệu định kỳ và công khai kết quả tổng hợp. Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần phát huy vai trò giám sát theo tinh thần Nghị định 178. Mục tiêu là hình thành một quy trình đủ chặt để bảo vệ ngân sách, đủ công bằng để bảo vệ cán bộ và đủ minh bạch để giữ niềm tin đối với chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.

Xin cảm ơn bà!

 

Hậu kiểm cũng là một hình thức kiểm soát quyền lực. Quyền quyết định ai ở lại, ai nghỉ và ai được hưởng khoản trợ cấp lớn tác động rất sâu sắc đến con người và ngân sách, nên phải được giám sát bằng hồ sơ, dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Qua đó, cán bộ thực thi hiểu rằng quyết định dù được ban hành trong thời điểm gấp vẫn phải đúng thẩm quyền, đúng đối tượng và có thể kiểm chứng.

Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Đại biểu Quốc hội khoá XVI

Nguồn bài viết: Danviet
Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1