Búp chè hữu cơ giá 500.000 đồng/kg vẫn không đủ bán, nông dân Thái Nguyên tính đường đón khách du lịch châu Âu
Trải qua nhiều năm gắn bó với cây chè, ông Nguyễn Đức Trọng, Trưởng ban quản lý làng nghề chè Sông Cầu, tổ 19, xã Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đang từng bước xây dựng mô hình sản xuất chè hữu cơ gắn với nông nghiệp sạch và du lịch trải nghiệm, đón khách du lịch châu Âu, Bắc Mỹ...
Do sản xuất theo hướng hữu cơ nên cây chè khỏe, chất lượng được nâng lên. Ảnh: Hà Thanh
Chuyển đổi sang sản xuất chè hữu cơ, nâng tầm giá trị sản phẩm
Sau khi học xong và trải qua nhiều công việc khác nhau, năm 2002 ông Nguyễn Đức Trọng vào làm công nhân chế biến tại một nông trường chè.
Sau khoảng 8 năm làm việc tại công ty chè, khi doanh nghiệp chuẩn bị chuyển đổi, cổ phần hóa, ông nghỉ việc, về mở xưởng riêng và tiếp tục gắn bó với nông nghiệp.
Năm 2013, ông được bầu làm trưởng ban quản lý làng nghề chè truyền thống tại địa phương.
Đến năm 2017, ông cùng một số người từng làm việc chung tiếp cận khoảng 50ha chè, bắt đầu định hướng sản xuất chè an toàn.
Tuy nhiên, nhận thấy thị trường trong nước cạnh tranh cao, giá trị sản phẩm chưa tương xứng, ông Trọng tìm hướng chuyển đổi sang chè hữu cơ.
Thông qua mối quan hệ với Công ty Chè Hiệp Thành, đơn vị quan tâm đến chè hữu cơ và có thị trường xuất khẩu, ông bắt đầu triển khai sản xuất theo hướng này.
Đến năm 2018, sản phẩm được kiểm nghiệm và đạt tiêu chuẩn của thị trường EU. Cũng trong thời gian đó, ông được giao triển khai khoảng 20ha chè hữu cơ.
Tuy nhiên, sau quá trình thực hiện, diện tích bị thu hẹp và hiện chỉ còn khoảng 4ha thực sự đáp ứng yêu cầu.
Theo ông Trọng, thời gian đầu sau chuyển đổi, sản lượng chè giảm khoảng một nửa. Sau khoảng 5 năm chăm sóc, sản lượng gần như tương đương trước đây, nhưng chất lượng tốt hơn nhiều.
Điểm khác biệt trong cách làm của ông là không coi hữu cơ đơn thuần là việc bón phân hữu cơ và không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Ông lựa chọn những lô chè gần rừng tự nhiên, rừng keo, từng bước phục hồi môi trường sinh thái, giảm dần phân hóa học và hướng tới xây dựng hệ sinh thái cân bằng để cây chè khỏe, ít phải sử dụng các biện pháp bảo vệ.
Ông Trọng cho rằng đây là vấn đề khó đối với chè hữu cơ ở Thái Nguyên, bởi vùng sản xuất hữu cơ thường nằm xen kẽ với vùng chè an toàn.
Nếu khu vực liền kề vẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nguồn nước và môi trường có thể bị ảnh hưởng khiến sản phẩm có nguy cơ không đạt yêu cầu kiểm nghiệm.
“Làm chè hữu cơ không chỉ là câu chuyện của từng hộ mà phải gắn với việc xây dựng và bảo vệ môi sinh của cả vùng”, ông Trọng chia sẻ.
Kết hợp sản xuất chè hữu cơ với phát triển du lịch trải nghiệm
Hiện ông Trọng đang đề nghị ngành nông nghiệp cho tiếp cận thêm khoảng 10ha để tiếp tục chuyển đổi.
Theo ông, giá chè hữu cơ hiện có thể đạt khoảng 500.000 đồng/kg và nhu cầu thị trường rất lớn. Nhiều khách hàng đặt mua nhưng sản lượng không đủ đáp ứng.
Với chè an toàn, hiện mô hình sản xuất của ông Trọng đang cho sản lượng khoảng 4 tấn chè khô/năm. Giá chè thấp nhất khoảng 300.000 đồng/kg, còn phổ biến dao động từ 400.000-500.000 đồng/kg.
Trước đây, ông Trọng từng bao tiêu khoảng 20ha chè cho bà con với sản lượng khoảng 45 tấn chè nguyên liệu mỗi năm.
"Hiện nay, những hộ liên kết với mô hình nếu tuân thủ quy trình, ghi chép nhật ký nông vụ và bảo đảm nguyên liệu đáp ứng yêu cầu kiểm nghiệm sẽ được yên tâm về đầu ra", ông Trọng cho hay.
Không chỉ tập trung nâng cao giá trị cây chè, ông Trọng còn đang hướng tới kết hợp sản xuất chè hữu cơ với du lịch trải nghiệm. Theo ông, vùng chè Sông Cầu có lợi thế bởi từng là khu vực của Nông trường chè Sông Cầu, có truyền thống và văn hóa trà được duy trì qua nhiều thế hệ.
Người dân có kinh nghiệm sản xuất, chế biến chè; cảnh quan còn tương đối nguyên sơ và thế hệ trẻ bắt đầu quan tâm đến trà. Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch xanh.
Mô hình được ông Trọng định hướng đó là để du khách trực tiếp tham gia hái chè, sao chè, chế biến sản phẩm và mang thành quả về.
Sau khoảng hai năm làm du lịch, bước đầu ông Trọng cho biết nhu cầu của du khách khá cao, đặc biệt là khách nước ngoài. Điều họ quan tâm là không gian tự nhiên và sự chân thật của đời sống người dân.
Tuy nhiên, ông không muốn quảng bá quá mạnh khi cơ sở vật chất chưa hoàn thiện. Theo ông, làm du lịch phải làm thật, làm lâu dài; nếu sản phẩm chưa tốt mà quảng bá rộng, khách đến không hài lòng sẽ tạo phản ứng ngược.
Liên kết nông hộ, xây chuỗi sản phẩm sạch
Để giữ chân du khách, ông Trọng xác định ngoài cảnh quan và trải nghiệm chè, ẩm thực và sản phẩm địa phương cũng đóng vai trò hết sức quan trọng.
Hiện, ông đang xây dựng mô hình nông nghiệp sạch để chủ động nguồn thực phẩm, phục hồi các loại rau rừng, rau dớn, phát triển gà đen, gà ta, trứng sạch, rau vườn. Một số hộ liên kết nuôi lợn rừng, lợn mán và hươu.
Theo ông Trọng, mỗi hộ có thể đảm nhận một sản phẩm khác nhau. Khi liên kết thành chuỗi, người làm chè có thể tập trung vào chè, hộ khác sản xuất rau hoặc chăn nuôi, từ đó hình thành hệ thống sản phẩm phục vụ du lịch.
Mô hình này cũng đang được ông Trọng kết nối với các vùng sản xuất tại Thái Nguyên, Bắc Kạn, Yên Bái, Lào Cai và một số địa phương khác.
Ngoài chè Thái Nguyên, không gian trải nghiệm có thể giới thiệu chè ô long, chè Phổ Nhĩ, mật ong bạc hà, gạo Séng Cù, các sản phẩm từ gừng, nghệ và nhiều nông sản sạch.
Trước mắt, ông Trọng hướng tới các nhóm khách nhỏ khoảng 5-7 người, đặc biệt là khách nước ngoài, với tour kéo dài 3-5 ngày.
Du khách có thể kết hợp tham quan hang Phượng Hoàng, Hồ Vai Miếu, đi rừng, sau đó trở về lưu trú và trải nghiệm hái, sao, chế biến chè.
Căn nhà sàn ông đang xây dựng cũng nằm trong định hướng này. Ông muốn bảo tồn những giá trị văn hóa của vùng trung du, miền núi phía Bắc, kết hợp không gian cộng đồng với một số phòng khép kín phục vụ du khách.
Dù vậy, theo ông Trọng, khó khăn lớn hiện nay là cơ sở hạ tầng, giao thông, nguồn vốn và quy hoạch vùng. Nhiều hộ dân có đất sản xuất nguồn gốc từ đất của công ty nên khó dùng để thế chấp vay vốn ngân hàng, trong khi sản xuất hữu cơ và phát triển du lịch cần vốn đầu tư dài hạn.
Ông cũng kiến nghị cần quan tâm hơn đến quy hoạch vùng chè, bởi những đồi chè phải mất nhiều năm chăm sóc mới tạo được cảnh quan, nhưng nếu thiếu quy hoạch, việc san gạt đất có thể phá vỡ không gian này.
Theo ông Trọng, nếu quy hoạch tốt, bảo vệ được cảnh quan, đồng thời có hạ tầng, vốn và chính sách phù hợp, người dân sẽ có thêm động lực đầu tư lâu dài vào chè hữu cơ, nông nghiệp sạch và du lịch xanh.
Với hướng đi này, ông Trọng không đặt mục tiêu phát triển bằng mọi giá mà lựa chọn cách làm từng bước: giữ diện tích chè hữu cơ đạt chuẩn, nâng chất lượng sản phẩm, liên kết các hộ dân và hoàn thiện dần không gian trải nghiệm, qua đó từng bước nâng giá trị cây chè và tạo thêm sinh kế cho người dân vùng chè Sông Cầu.