Dự thảo Nghị quyết về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đang trình Chính phủ có điểm gì khác so với Nghị định 38
Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân không đăng ký xuất khẩu đến các thị trường có yêu cầu về mã số, trong thời hạn không quá 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Đó là một trong những điểm đáng chú ý trong Dự thảo Nghị quyết quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Cấp mã số vùng trồng đang vướng mắc, khó khăn ở đâu?
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang trình Chính phủ Dự thảo Nghị quyết quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Hiện, quy trình, thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đang được thực hiện theo Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026.
Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, qua hơn 5 tháng triển khai Nghị định số 38/2026/NĐ-CP đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc tại khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, Điều 8, Điều 14 cần được xử lý ngay, cụ thể như sau:
Thứ nhất, thành phần hồ sơ còn yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp nhiều thông tin, hồ sơ có thể cắt giảm để giảm chi phí tuân thủ cho người dân. Nhiều nội dung quy định còn chưa phù hợp với thời điểm hiện tại hoặc chưa rõ cần được điều chỉnh như quy định về diện tích tối thiểu, làm rõ về mã số cho vùng trồng xen canh.
Thứ hai, trình tự giải quyết còn nặng về tiền kiểm, nhiều bước xử lý thủ công, chưa thực hiện đầy đủ trên môi trường điện tử, dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ.
Thứ ba, việc tổ chức thực hiện trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu phải tiếp tục phân cấp, xác định rõ trách nhiệm của từng cấp chính quyền, tăng cường vai trò của cấp xã đồng thời tăng cường hậu kiểm thay cho tiền kiểm.
Thứ tư, nhu cầu cấp mới mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu đang tăng nhanh, đặc biệt đối với các mặt hàng trái cây xuất khẩu chủ lực; nếu không tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính sẽ ảnh hưởng đến tiến độ mở rộng vùng nguyên liệu và năng lực đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, cần thiết ban hành Nghị quyết của Chính phủ để áp dụng ngay các giải pháp đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thời gian chờ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38/2026/NĐ-CP.
Dự thảo Nghị quyết có những điểm gì khác so với Nghị định số 38 ngày 24/1/2026.
Theo nội dung Dự thảo Nghị quyết quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trình Chính phủ thì có nhiều điểm mới so với Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026.. Cụ thể:
| Nghị định số 38/2026 |
Dự thảo Nghị quyết |
| Diện tích tối thiểu của một vùng trồng là 10 hecta (ha) đối với cây trồng lâu năm. Đối với cây hằng năm, diện tích phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Trường hợp có yêu cầu khác về diện tích hoặc kỹ thuật của nước nhập khẩu thì áp dụng theo yêu cầu đó. |
Không quy định diện tích tối thiểu và làm rõ việc không hạn chế cấp mã số vùng trồng đối với khu vực trồng xen |
| Yêu cầu phải có bản thuyết minh của vùng trồng |
Bãi bỏ yêu cầu nộp bản thuyết minh, thực hiện kê khai theo mẫu đơn thống nhất và tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về tính trung thực của thông tin kê khai.
|
| Tổ chức, cá nhân nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói đến cơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính bằng hình thức trực tiếp hoặc qua môi trường mạng hoặc qua dịch vụ bưu chính. |
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đến Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi có địa chỉ vùng trồng, cơ sở đóng gói) thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia. |
| Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn được giao tổ chức thẩm định hồ sơ, tổ chức kiểm tra thực tế và lập Biên bản kiểm tra vùng trồng. Sau đó, trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả kiểm tra thực tế đạt yêu cầu, cơ quan chuyên môn được giao ban hành Quyết định cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. |
Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân không đăng ký xuất khẩu đến các thị trường có yêu cầu về mã số, trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. |
| Trường hợp kết quả kiểm tra thực tế không đạt yêu cầu, cơ quan chuyên môn được giao phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho tổ chức, cá nhân để thực hiện khắc phục các điểm không phù hợp và báo cáo kết quả khắc phục. |
Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức kiểm tra và ban hành Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. |
| Trong thời hạn 04 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả khắc phục đạt yêu cầu, cơ quan chuyên môn được giao thẩm định hồ sơ, kiểm tra thực tế và cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói; trường hợp không cấp thì phải có văn bản thông báo và nêu rõ lý do. |
Đối với trường hợp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải được nước nhập khẩu phê duyệt, cơ quan chuyên môn đầu mối cấp tỉnh tổng hợp, gửi danh sách về Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được danh sách, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, gửi nước nhập khẩu xem xét, phê duyệt; trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu khác về thời gian gửi danh sách này thì thực hiện theo yêu cầu của nước nhập khẩu. |
| Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phân công cơ quan chuyên môn được giao chịu trách nhiệm toàn diện trong việc triển khai thực hiện cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, đồng thời huy động sự tham gia của Ủy ban nhân dân cấp xã theo phân cấp. |
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các thủ tục hành chính về cấp, cấp lại mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; phê duyệt mã số trong trường hợp nước nhập khẩu đồng ý để cơ quan có thẩm quyền Việt Nam tự phê duyệt; thực hiện việc thu hồi, tạm dừng, khôi phục mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố giao cơ quan chuyên môn cấp tỉnh là đầu mối tổng hợp danh sách mã số đã được cấp đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu gửi về cơ quan đầu mối thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường để chuyển nước nhập khẩu phê duyệt; thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã kết quả phê duyệt của nước nhập khẩu, các thông báo không tuân thủ và các thông tin liên quan khác để thông tin cho các tổ chức, cá nhân có liên quan; công khai, cập nhật danh sách mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã được cấp, phê duyệt. |
Đặc biệt, Nghị quyết sẽ đơn giản hóa trình tự cấp mã số theo hướng thực hiện thủ tục toàn trình trên Cổng dịch vụ công quốc gia, rút ngắn thời gian giải quyết, chuyển từ tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm, đồng thời vẫn tiếp tục bảo đảm việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và quy định của nước nhập khẩu.
Tại cuộc họp lấy ý kiến các địa phương vào nội dung Dự thảo Nghị quyết, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, sau khi Chính phủ thông qua và ban hành Nghị quyết sẽ góp phần giải quyết ngay một số vướng mắc, khó khăn trong cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Tuy nhiên, cũng theo ông Hiệp, một số nội dung mới sẽ áp dụng thực hiện theo Nghị quyết. Còn đối với một số nội dung không có sự thay đổi, bổ sung thì vẫn phải thực hiện theo Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026.
Theo ông Hiệp, để tháo gỡ triệt để khó khăn, vướng mắc trong cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói - xa hơn phải sửa đổi, bổ sung toàn diện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026.
"Bộ đã xin ý kiến Chính phủ để tiến tới sửa Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026 và được Chính phủ đồng ý cho thực hiện lộ trình để sửa", ông Hiệp cho hay.