image banner
Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm Đổi mới người Cờ Lao ở Tuyên Quang bán mật ong bạc hà kiểu gì mà chốt đơn tốt thế
Lượt xem: 9
Lưu Thị Hòa bán được mật ong bạc hà cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang (địa phận Hà Giang cũ), chị còn xây dựng thương hiệu, chế biến sâu, kể câu chuyện hấp dẫn về loại mật này. Nữ nông dân người Cờ Lao đã trở thành một trong 96 Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm Đổi mới-năm 2026.
Anh-tin-bai
Chị Lưu Thị Hòa đẩy mạnh quảng bá nông sản vùng cao trên các nền tảng số như Facebook, TikTok, YouTube và sàn thương mại điện tử. Ảnh: NVCC.

Mật ong bạc hà cao nguyên đá Đồng Văn, câu hỏi lớn đằng sau câu chuyện

Sinh ra và lớn lên trên cao nguyên đá Đồng Văn (xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang), Lưu Thị Hòa sớm quen với những mùa mật ong bạc hà, những vườn lê trĩu quả, những cây chè Shan tuyết cổ thụ và các sản vật đặc trưng của vùng núi đá.

Nhưng đằng sau vẻ đẹp ấy là một thực tế khiến Hòa nhiều lần trăn trở: nông sản của bà con làm ra không ít, song phần lớn vẫn bán dưới dạng nguyên liệu thô, phụ thuộc vào thương lái và thị trường theo mùa vụ.

Chị Lưu Thị Hòa sinh năm 1992, là người dân tộc Cờ Lao. Bố chị là người Cờ Lao, mẹ là người Pu Péo - những dân tộc có dân số rất ít ở Việt Nam. Lớn lên giữa cộng đồng các dân tộc vùng cao, chị hiểu khá rõ những khó khăn mà người dân nơi đây phải đối mặt trong sản xuất và tiêu thụ nông sản.

Sau khi tốt nghiệp Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, chị Hòa có thời gian học tập, làm việc và tiếp cận với nhiều mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp.

Càng đi, càng tìm hiểu, chị càng nhận ra một điều: muốn nông sản vùng cao có giá trị cao hơn, người nông dân không thể chỉ dừng ở việc làm ra sản phẩm rồi chờ người mua.

"Muốn giải quyết bài toán đầu ra thì phải thay đổi cả cách sản xuất, xây dựng thương hiệu, tổ chức liên kết và tìm cách đưa sản phẩm đến thẳng người tiêu dùng", chị Hòa xác định. Đó cũng là điểm khởi đầu cho hành trình khởi nghiệp của nữ nông dân trẻ nơi cực Bắc.

Góp vốn 700 triệu đồng để làm nông sản theo chuỗi, trong đó có mật ong hoa bạc hà

Tháng 10/2017, Hòa cùng 8 hộ hội viên nông dân là đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương góp vốn thành lập Hợp tác xã Nông lâm nghiệp và Dịch vụ thương mại tổng hợp Po Mỷ.

Số vốn ban đầu 700 triệu đồng không phải một con số nhỏ đối với những hộ nông dân vùng cao khi ấy. Nhưng điều khó hơn tiền vốn là tìm được cách làm phù hợp.

Po Mỷ lựa chọn hướng đi từ chính những tài nguyên bản địa. Thay vì chạy theo những sản phẩm xa lạ, hợp tác xã tập trung vào mật ong hoa bạc hà, lê, chè Shan tuyết, sâm khoai và nhiều nông sản đặc trưng khác.

Những năm đầu, Hòa cùng các thành viên dành nhiều thời gian khảo sát thị trường, tìm hiểu nhu cầu người tiêu dùng, xây dựng vùng nguyên liệu và kết nối với các hộ dân.

Năm 2019, hợp tác xã trồng mới 2.000 cây ăn quả lâu năm, đồng thời thu mua, bao tiêu các loại nông sản như óc chó, rau theo mùa và sản vật vùng cao. Từ cách làm manh mún, những người nông dân bắt đầu quen dần với khái niệm sản xuất gắn với thị trường.

Đến nay, Po Mỷ liên kết với 10 hộ nuôi ong, tổng số khoảng 1.500 đàn; 15 hộ trồng lê với sản lượng khoảng 50 tấn/năm; 2 hộ trồng mận với quy mô khoảng 10.000 cây và mở rộng vùng nguyên liệu sâm khoai tại 7 xã, diện tích khoảng 14ha.

Hợp tác xã cũng sở hữu 3ha cây ăn quả, khoảng 100 đàn ong, đầu tư nhà xưởng và các thiết bị phục vụ chế biến như máy hạ thủy phần, máy hút chân không, máy chiết rót.

Từ một ý tưởng khởi nghiệp, Po Mỷ từng bước hình thành chuỗi liên kết với khoảng 50 hộ dân, tạo việc làm thường xuyên cho 8 lao động địa phương và khoảng 30 lao động thời vụ mỗi năm.

Không chỉ bán mật ong đặc sản, Hòa bán cả câu chuyện Cao nguyên đá

Có một thay đổi khá đặc biệt trong cách Hòa làm nông sản. Chị không muốn những chai mật ong bạc hà của quê mình chỉ được nhìn như một loại thực phẩm.

Hòa muốn khi khách hàng cầm chai mật ong lên, họ biết nó đến từ đâu, được tạo ra như thế nào và phía sau sản phẩm ấy là cuộc sống của những người nuôi ong trên Cao nguyên đá Đồng Văn.

Với mật ong hoa bạc hà, Po Mỷ liên kết với các hộ nuôi ong, kiểm soát chất lượng nguyên liệu, sử dụng máy hạ thủy phần và công nghệ xử lý kết tinh nhằm chuẩn hóa sản phẩm. Mật ong sau đó được đóng chai, thiết kế bao bì, truy xuất nguồn gốc và xây dựng câu chuyện thương hiệu.

Hiệu quả thể hiện khá rõ qua giá bán. Nếu mật ong bạc hà nguyên liệu trước đây có giá khoảng 400.000 đồng/lít thì sau khi được chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu và đưa qua các kênh bán hàng hiện đại, giá bán khoảng 600.000 đồng/lít.

Với quả lê cũng vậy. Thay vì chỉ bán lê tươi theo mùa, Hòa cùng các thành viên hợp tác xã tìm cách chế biến thành sản phẩm mới. Từ đó, rượu lê Méc Sali ra đời theo hướng lên men tự nhiên dựa trên nguyên lý sản xuất rượu vang, giữ lại hương thơm đặc trưng của quả lê. Giá trị thương mại của sản phẩm khoảng 400.000 đồng/lít.

Từ mật ong, quả lê đến sâm khoai, tư duy của Hòa đều xoay quanh một câu hỏi: làm thế nào để cùng một nguồn nguyên liệu nhưng tạo ra nhiều giá trị hơn?

Từ cây sâm khoai, chị nghiên cứu phát triển sản phẩm phở sâm và tiếp tục thử nghiệm các sản phẩm như rượu sâm, mứt sâm, nến thiên nhiên, sáp dưỡng và các sản phẩm quà tặng gắn với văn hóa vùng cao.

Po Mỷ hiện có các sản phẩm mang thương hiệu riêng như mật ong hoa bạc hà Po Mỷ, chè Shan tuyết Finho, hồng trà Shan tuyết Finho, cao ấu tẩu, thịt trâu gác bếp, thịt lợn gác bếp, lạp sườn gác bếp, tam thất ngâm mật ong, tinh bột nghệ, túi lọc ngâm chân Dao đỏ và các sản phẩm chế biến từ lê Méc Sali.

Hợp tác xã có 2 sản phẩm OCOP, vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn VietGAP, nhà xưởng đạt tiêu chuẩn HACCP.

Từ Cao nguyên đá đến Facebook, TikTok, Shopee

 

Nếu chế biến sâu giúp nâng giá trị sản phẩm thì chuyển đổi số giúp Hòa đưa sản phẩm ấy đi xa hơn. Sau đại dịch Covid-19, khi thói quen mua sắm của người tiêu dùng thay đổi nhanh, chị bắt đầu đẩy mạnh bán hàng đa kênh.

Facebook, TikTok, YouTube, Shopee, TikTok Shop... lần lượt trở thành những "cửa hàng" mới của Po Mỷ. Nhưng Hòa không chọn cách quảng cáo đơn thuần.

Chị kể chuyện. Một video về mùa hoa bạc hà. Một clip ghi lại mùa lê trên Cao nguyên đá. Hình ảnh cây chè Shan tuyết cổ thụ. Một phiên chợ vùng cao. Người dân làm thịt gác bếp. Hay đơn giản là cuộc sống thường ngày của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong những câu chuyện ấy, sản phẩm xuất hiện tự nhiên.

"Khách hàng không chỉ mua một chai mật ong hay một sản phẩm nông sản. Họ còn muốn biết vùng đất ấy như thế nào, người làm ra sản phẩm là ai", Hòa chia sẻ.

Nhiều video của hợp tác xã đạt hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu lượt xem, giúp câu chuyện nông sản vùng cao tiếp cận khách hàng ở nhiều địa phương.

Hòa cũng chủ động ứng dụng các phần mềm quản lý sản xuất, đơn hàng, kế toán, chăm sóc khách hàng và điều hành công việc. Gần đây, chị sử dụng thêm các công cụ trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ xây dựng nội dung, thiết kế hình ảnh và nghiên cứu thị trường.

Với một hợp tác xã ở vùng cao, những công cụ ấy giúp rút ngắn khoảng cách giữa người sản xuất và thị trường.

Làm kinh tế nhưng không bỏ lại người dân phía sau

Điều Hòa nói nhiều không kém chuyện bán hàng là chuyện liên kết với nông dân. Chị hiểu rằng một hợp tác xã dù có thương hiệu tốt đến đâu cũng khó phát triển bền vững nếu vùng nguyên liệu không ổn định.

Vì thế, Po Mỷ không chỉ mua sản phẩm của người dân mà còn hướng dẫn họ về kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và bán hàng trực tuyến.

Từ những hộ sản xuất nhỏ lẻ, người dân từng bước làm quen với cách sản xuất theo tiêu chuẩn và gắn với nhu cầu thị trường.

Hiện hợp tác xã tạo việc làm thường xuyên cho 8 lao động với thu nhập từ khoảng 5 triệu đồng/người/tháng; lao động thời vụ có mức khoảng 230.000 đồng/ngày. Khoảng 50 hộ dân tham gia liên kết cũng có thêm đầu ra cho sản phẩm.

Doanh thu của mô hình tăng từ khoảng 900 triệu đồng năm 2020 lên 1,6 tỷ đồng năm 2024. Lợi nhuận của mô hình tăng qua các năm, đạt 312 triệu đồng năm 2025. Với Hòa, những con số ấy quan trọng, nhưng chưa phải đích đến cuối cùng.

Chị muốn việc làm nông nghiệp có thể giúp người dân vùng cao sống được bằng chính sản vật quê mình; muốn những cây lê, đàn ong, cây chè Shan tuyết hay vùng sâm khoai không chỉ tạo ra nguyên liệu mà trở thành một phần của chuỗi giá trị.

“Mang câu chuyện quê mình đi xa hơn”

Trong hành trình ấy, Hòa cũng dành thời gian cho các hoạt động cộng đồng, chia sẻ kinh nghiệm khởi nghiệp, kết nối các mô hình kinh tế tập thể và hỗ trợ thanh niên, nông dân vùng miền núi phía Bắc.

Những nỗ lực ấy góp phần đưa chị đến với danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2023 và danh hiệu Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm Đổi mới năm 2026, cùng nhiều hình thức khen thưởng khác.

Nhưng nếu hỏi điều gì khiến nữ nông dân sinh năm 1992 tiếp tục gắn bó với con đường này, câu trả lời của Hòa không nằm ở những tấm bằng khen.

Đó là mong muốn nhìn thấy nông sản quê mình được định giá bằng chính chất lượng và câu chuyện của nó.

Trên Cao nguyên đá, nơi đất đai khắc nghiệt nhưng sản vật và văn hóa lại vô cùng phong phú, Hòa đang chọn một cách làm mới: đưa công nghệ vào sản xuất, đưa thương hiệu vào nông sản và đưa câu chuyện vùng cao lên không gian số.

Từ một cô gái học Quốc tế học trở về quê khởi nghiệp, Hòa đã cùng những người nông dân địa phương dựng nên một mô hình kinh tế dựa trên tài nguyên bản địa.

Con đường phía trước vẫn còn nhiều việc phải làm: vùng nguyên liệu phải ổn định hơn, sản phẩm phải tiếp tục được chuẩn hóa, thị trường phải mở rộng và người dân phải cùng thay đổi cách nghĩ về sản xuất.

Nhưng với Hòa, nguyên tắc ấy đã rõ ràng: không chỉ làm ra nông sản, mà phải làm cho nông sản có thương hiệu, có câu chuyện và có chỗ đứng trên thị trường.

Đó cũng là cách nữ nông dân Cờ Lao muốn góp phần giữ lại giá trị của quê hương trong một nền nông nghiệp đang ngày càng bước sâu vào thời đại số.

Nguồn bài viết: Danviet
Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1