image banner
El Nino năm nay rất mạnh, xâm nhập mặn có thể vào sâu 70km, vùng ĐBSCL điều tiết, kiểm soát nguồn nước ra sao?
Lượt xem: 16
El Nino từ nay đến cuối 2026 và đầu 2027 được dự báo sẽ rất mạnh, xâm nhập mặn ở ĐBSCL có thể vào sâu đến 70km, ảnh hưởng đến hàng trăm nghìn ha diện tích sản xuất, gây thiếu nước sinh hoạt. Để ứng phó với tình trạng này, các chuyên gia, cơ quan quản lý nhấn mạnh cần sự phối hợp liên vùng, chia sẻ thông tin giữa các địa phương vùng ĐBSCL.
Anh-tin-bai

Hệ thống thủy lợi cái lớn cái bé giúp điều tiết nước, ngăn mạn, giữ ngọt cho hàng trăm nghìn héc-ta đất nông nghiệp ở ĐBSCL.

Chiều 20/10, Báo Nông thôn Ngày nay/Dân Việt tổ chức Tọa đàm trực tuyến với chủ đề: “Hạn mặn tại ĐBSCL: Chủ động thích ứng, đảm bảo sinh kế cho nông dân”.

Tại đây, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng phòng Quản lý vận hành và tưới tiêu, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thuỷ lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã thông tin về diễn biến của El Nino, tình hình xâm nhập mặn ở ĐBSCL và các giải pháp, kịch bản ứng phó.

Xâm nhập mặn có thể vào sâu đến 70km

Thông tin về nguyên nhân dẫn đến thực trạng hạn hán và xâm nhập mặn diễn ra ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở khu vực ĐBSCL, ông Hùng cho biết, những năm gần đây, nguồn nước ở Đồng bằng sông Cửu Long thay đổi do nhiều yếu tố: biến đổi khí hậu, nước biển dâng, việc khai thác và điều tiết nước ở thượng nguồn sông Mekong, cùng với những thay đổi nội tại trong vùng.

Các yếu tố trên đã làm biến động dòng chảy mùa kiệt, làm xâm nhập mặn xuất hiện sớm và vào sâu hơn từ các cửa sông.

Trong lịch sử nhiều năm qua, chúng ta đã trải nhiều giai đoạn, điển hình trong các mùa khô 2015-2016, 2019-2020 và những năm 2023, 2024, tới đây là 2026, 2027. Trong một số mùa khô gay gắt, xâm nhập mặn xuất hiện sớm hơn khoảng 1-1,5 tháng và kéo dài hơn so với trung bình nhiều năm.

Ranh mặn 4 g/l tại một số cửa sông Cửu Long có thời điểm vào sâu hơn tới khoảng 20 km so với trung bình nhiều năm. Điều này làm giảm thời gian lấy được nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt. Nguy cơ thường cao hơn trong những năm chịu ảnh hưởng của El Nino.

Theo kịch bản dự báo hiện có, xâm nhập mặn mùa khô năm 2026-2027 có thể bắt đầu từ cuối tháng 12/2026, cao điểm từ tháng 1-4/2027, ở mức cao hơn trung bình nhiều năm, cao hơn mùa khô năm 2025-2026, tương đương với mùa khô năm 2015-2016, ranh mặn 4 g/L tại các cửa sông Cửu Long vào sâu từ 50-70 km, sâu hơn từ 7-13 km so với trung bình nhiều năm;

Tại các cửa sông Vàm Cỏ vào sâu từ 110-130 km, sâu hơn từ 30-42 km so với trung bình nhiều năm, gây nguy cơ hạn hán, thiếu nước cho khoảng 85.800 ha diện tích lúa Đông Xuân (Tây Ninh 1.800 ha, Đồng Tháp 20.000 ha, Vĩnh Long 12.000 ha, TP. Cần Thơ 22.000 ha, Cà Mau 30.000 ha) và khoảng 120.000 ha diện tích lúa - tôm ở các khu vực canh tác chủ yếu sử dụng nước mưa (An Giang 80.000 ha, Cà Mau 40.000 ha).

Diện tích cây ăn trái có nguy cơ ảnh hưởng khoảng 45.000 ha ở các vùng ven biển (Tây Ninh 3.000 ha, Đồng Tháp 14.000 ha, Vĩnh Long 25.000 ha, Cần Thơ 3.000 ha). Đây là diện tích có nguy cơ bị ảnh hưởng, chưa phải diện tích đã thiệt hại; dự báo sẽ tiếp tục được cập nhật theo diễn biến thực tế.

Xâm nhập mặn cũng ảnh hưởng khá lớn đến việc cấp nước sinh hoạt nông thôn, đặc biệt là các tỉnh An Giang và Cà Mau còn cần lưu ý nguy cơ sụt lún, sạt lở tại những nơi kênh rạch cạn nước. Đây là một yếu tố có thể làm tăng rủi ro, bên cạnh điều kiện địa chất và các tác động khác.

Thực tế ở ĐBSCL cho thấy cách đầu tư và vận hành thủy lợi phải thích ứng với nguồn nước và nhu cầu sản xuất. Trước dự báo El Nino và xâm nhập mặn sẽ tác động mạnh mẽ lên sản xuất và đời sống của người dân, thì những số liệu, tính toán trước đây cần được cập nhật. Công trình phải giúp điều tiết nước ngọt, nước lợ, nước mặn phù hợp với từng vùng, đồng thời chú ý bảo vệ môi trường và hệ sinh thái.

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120 năm 2017 là phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên, coi nước ngọt, nước lợ và nước mặn đều là tài nguyên. Vì vậy, đầu tư thủy lợi cũng phải phù hợp với nhu cầu dùng nước của từng vùng sản xuất.

Công trình thủy lợi ngày nay còn phục vụ sinh hoạt và các nhu cầu kinh tế khác, bên cạnh sản xuất nông nghiệp. Quy hoạch thủy lợi cần gắn với quy hoạch vùng và quy hoạch các ngành. Với vùng thượng, vùng giữa và vùng ven biển, cách điều tiết nước phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, tránh để việc lấy nước ngọt ở nơi này ảnh hưởng đến nhu cầu nước lợ, nước mặn ở nơi khác.

Theo hướng đó, nhiều công trình như Cái Lớn - Cái Bé, cống âu thuyền Ninh Quới, Vũng Liêm, Bông Bót, Nguyễn Tấn Thành đã được đầu tư và phát huy vai trò kiểm soát, điều tiết nguồn nước. Hiệu quả của công trình còn phụ thuộc vào cách phối hợp vận hành và bố trí sản xuất trong vùng.

Ví dụ, hệ thống Cái Lớn - Cái Bé có vùng hưởng lợi với diện tích tự nhiên hơn 384.000 ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp và thủy sản khoảng 346.000 ha. Các hệ thống Quản Lộ - Phụng Hiệp, Nam Măng Thít, Bắc Bến Tre, Gò Công và Bảo Định cũng góp phần kiểm soát, điều tiết nước cho các vùng sản xuất lớn. Khi đánh giá chung, cần phân biệt diện tích tự nhiên của vùng hưởng lợi với diện tích sản xuất được phục vụ, đồng thời tránh cộng trùng giữa các hệ thống.

Khó khăn lớn hiện nay là nguồn nước biến động khó lường, nhu cầu dùng nước giữa các vùng khác nhau, trong khi vốn đầu tư còn hạn chế. Vì vậy, giai đoạn 2026-2035 cần tập trung vào ba việc: đầu tư công trình thiết yếu; nâng cao chất lượng dự báo và phối hợp vận hành; bố trí sản xuất phù hợp với nguồn nước. Với từng vùng ngọt, lợ, mặn, chúng ta cần điều tiết nước đúng thời điểm, đáp ứng nhu cầu thiết yếu và giúp bà con duy trì sản xuất ổn định.

Phối hợp liên vùng, chia sẻ thông tin

Ông Hùng cho hay, với đặc điểm nước liên thông rất mạnh ở ĐBSCL, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn chắc chắn không dừng lại ở ranh giới hành chính của bất kỳ tỉnh nào. Việc lấy nước, nhận nước hay vận hành công trình thủy lợi ở địa phương này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các vùng xung quanh nếu không có cơ chế điều tiết thống nhất. Vì vậy, phối hợp liên vùng và chia sẻ thông tin là yêu cầu rất quan trọng.

Theo ông Hùng, cần tập trung vào ba nội dung. Thứ nhất, tăng cường chia sẻ thường xuyên dữ liệu về mưa, mực nước, lưu lượng, độ mặn, dung tích trữ nước và tình trạng vận hành công trình. Thông tin cần được cập nhật kịp thời để các địa phương cùng đánh giá nguy cơ và thống nhất phương án ứng phó.

Thứ hai, xây dựng và rà soát các kịch bản hạn hán, xâm nhập mặn theo từng cấp độ; xác định rõ khu vực có nguy cơ thiếu nước, nguồn cấp nước thay thế, khả năng kết nối giữa các hệ thống và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.

 

Thứ ba, tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị khai thác công trình thủy lợi và chính quyền địa phương trong điều hành lấy nước, vận hành cống, trạm bơm, tích trữ và phân phối nước. Khi tình hình thay đổi, phương án phải được điều chỉnh kịp thời, tránh vận hành riêng lẻ, thiếu đồng bộ.

Việc phối hợp phải được thực hiện thường xuyên, có thông tin chung, phương án chung và trách nhiệm rõ ràng. Sau sắp xếp địa giới hành chính, cần giữ liên tục việc trao đổi thông tin và điều hành cấp nước. Công ty Khai thác công trình thủy lợi miền Nam được giao quản lý một số công trình lớn như Cái Lớn, Cái Bé, Xẻo Rô, Ninh Quới. Việc vận hành phải theo quy trình, có sự phối hợp với các địa phương để điều tiết nước hợp lý và hạn chế xung đột trong sử dụng nước.

Hiện nay, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi đang tổ chức xây dựng Quy trình vận hành liên hệ thống thủy lợi vùng Nam sông Hậu để tăng cường kết nối nguồn nước, nâng cao hiệu quả khai thác công trình thủy lợi liên vùng khu vực ĐBSCL.

Ngay sau khi hoàn thành sắp xếp địa giới hành chính, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi đã chủ động làm việc với các địa phương. Đặc biệt, tại khu vực Nam Sông Hậu, Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Miền Nam được giao quản lý, vận hành các công trình thủy lợi quy mô lớn (như hệ thống cống Cái Lớn, Cái Bé, Xẻo Rô, Ninh Quới) để điều tiết nguồn nước, kiểm soát mặn cho toàn vùng. Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình và phê duyệt quy trình vận hành các hệ thống thủy lợi lớn tại ĐBSCL.

Trong các quy trình này, trình tự vận hành và trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương được quy định rất cụ thể nhằm đảm bảo vận hành nhịp nhàng, tránh xảy ra xung đột trong khai thác nguồn nước.

Cung cấp bản đồ khoanh vùng cảnh báo để chủ động sản xuất Về việc lập kế hoạch và bản đồ ứng phó hạn mặn của các địa phương, ông Nguyễn Mạnh Hùng thông tin: Thực hiện nhiệm vụ được giao, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi đã tham mưu ban hành các chỉ đạo, đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin khoanh vùng cụ thể những khu vực có khả năng bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn.

Đây là căn cứ quan trọng để Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cùng chính quyền các địa phương chủ động bố trí lại lịch thời vụ và tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với thực tế nguồn nước.

Vừa qua, Cục Trồng trọt & BVTV và Cục Quản lý & Xây dựng công trình thủy lợi đã phối hợp tổ chức các hội nghị chuyên đề về sản xuất và thủy lợi tại ĐBSCL để thống nhất thông tin, hướng dẫn chỉ đạo các địa phương.

“Hiện nay, chúng tôi tiếp tục theo dõi chặt chẽ và cập nhật liên tục các bản tin dự báo hạn mặn để cung cấp cho địa phương. Khi tình hình có thay đổi, các bản đồ khoanh vùng và kế hoạch ứng phó sẽ lập tức được điều chỉnh linh hoạt. Việc chuẩn bị kịch bản từ sớm, từ xa chính là chìa khóa quan trọng nhất để giảm thiểu tối đa thiệt hại cho bà con nông dân ĐBSCL trong mùa khô năm nay”, ông Hùng khẳng định.

 Thực hiện Kết luận số 26 của Bộ Chính trị, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành quy trình tổ chức công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn cho các khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng, trong đó có Đồng bằng sông Cửu Long. Có thể hiểu đơn giản là phải chuẩn bị từ trước, xử lý kịp thời trong đợt hạn mặn và đánh giá, khắc phục sau đó.

Các kịch bản nguồn nước được xây dựng trước để khi tình hình thay đổi, chúng ta có phương án phù hợp. Để chuẩn bị cho mùa khô 2026-2027, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có Văn bản số 9494/BNNMT-TL ngày 18/8/2026 đề nghị các tỉnh triển khai sớm các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn do ảnh hưởng của El Niño.

Bộ cũng đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ tại Báo cáo số 11194/BC-BNNMT ngày 30/9/2026 và trình ban hành Chỉ thị tại Tờ trình số 11247/TTr-BNNMT ngày 1/10/2026, để thống nhất chỉ đạo ứng phó trên cả nước.

Đối với các địa phương, trước hết, cần đánh giá khả năng nguồn nước theo từng vùng, từng hệ thống công trình và từng mùa vụ; xác định rõ khu vực có thể bảo đảm cấp nước, khu vực có nguy cơ thiếu nước và khu vực cần chủ động chuyển đổi phương thức sản xuất. Việc bố trí sản xuất phải căn cứ vào khả năng cấp nước thực tế, không chạy theo diện tích gieo trồng vượt quá năng lực của hệ thống.

Thực tế cho thấy, có thời điểm người dân thấy một số loại nông sản có giá cao, giá trị kinh tế lớn nên mở rộng diện tích sản xuất mà chưa tính toán đầy đủ khả năng cấp nước. Khi hạn hán, thiếu nước xảy ra, chính người sản xuất lại phải gánh chịu thiệt hại. Vì vậy, các cơ quan chức năng cần định hướng rõ diện tích, cơ cấu cây trồng và lịch thời vụ phù hợp với điều kiện nguồn nước của từng địa phương.

Thứ hai, cần chủ động tích trữ nước từ sớm khi điều kiện cho phép, nâng cao hiệu quả khai thác công trình hiện có, giảm thất thoát và sử dụng nước tiết kiệm. Đối với vùng ven biển, vùng cây ăn trái có giá trị kinh tế cao, cần đặc biệt chú trọng các giải pháp trữ nước phân tán và phương án cấp nước dự phòng.

Thứ ba, tăng cường theo dõi, cập nhật thông tin dự báo, cảnh báo sớm để xây dựng các kịch bản vận hành tương ứng với từng tình huống nguồn nước. Các phương án phải xác định rõ thứ tự ưu tiên cấp nước, trách nhiệm tổ chức thực hiện và cơ chế phối hợp khi xảy ra thiếu nước.
Nguồn bài viết: Danviet
Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1