Nỗ lực xây dựng nông thôn mới, xã Yên Khương (Thanh Hóa) có những rừng vầu, ruộng lúa ven suối đẹp vàng óng thế này đây
Yên Khương là xã biên giới của tỉnh Thanh Hoá (thuộc huyện Lang Chánh cũ), với 98% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Thời gian qua, Yên Khương đã triển khai đồng loạt nhiều giải pháp nhằm từng bước tháo gỡ khó khăn, hướng tới mục tiêu đạt chuẩn nông thôn mới trước năm 2030.
Phát huy lợi thế lâm nghiệp, đa dạng hóa sinh kế
Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã từ tháng 7/2025, tỉnh Thanh Hóa có 147 xã và 19 phường, trong đó 45 xã chưa đạt chuẩn nông thôn mới, chủ yếu tập trung ở khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có xã Yên Khương.
Xã Yên Khương có diện tích tự nhiên 8.919,75 ha, dân số 5.585 người với 1.183 hộ, phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Thái. Địa hình đồi núi dốc, bị chia cắt bởi sông suối, dân cư phân tán, tập quán canh tác còn lạc hậu khiến đời sống người dân thường gặp nhiều khó khăn. Có thời điểm, Yên Khương là một trong những địa phương có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất huyện Lang Chánh cũ.
Sau nhiều năm nỗ lực, tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ dành cho địa bàn miền núi, biên giới, Yên Khương đã đạt 14/19 tiêu chí nông thôn mới. Tuy nhiên, các tiêu chí về thu nhập, nghèo đa chiều, lao động qua đào tạo và môi trường vẫn là những thách thức đối với địa phương.
Cây vầu đang dần trở thành hướng phát triển kinh tế hiệu quả của xã Yên Khương. Ảnh Chu Chương
Thu nhập bình quân đầu người tại xã Yên Khương năm 2025 mới chỉ đạt 22,28 triệu đồng/người, thấp hơn nhiều so với mức 48 triệu đồng/người/năm theo quy định năm 2025 tại Quyết định số 25/2024/QĐ-UBND ngày 26/6/2024 của UBND tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, nâng cao thu nhập được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
Để giải quyết bài toán này, địa phương tập trung cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Với diện tích trồng lúa theo kế hoạch khoảng 216 ha, xã dự kiến bố trí 70% diện tích sử dụng giống lúa lai, 30% sử dụng giống lúa thuần. Chăn nuôi được định hướng phát triển theo mô hình gia trại, trang trại, đồng thời khuyến khích người dân nuôi các vật nuôi có giá trị kinh tế như dúi, lợn mán và vịt bản địa.
Thực tế tại địa phương đã xuất hiện những mô hình đem lại nguồn thu đáng kể. Ở bản Bôn, gia đình ông Hà Văn Quỳnh trồng 4 ha vầu, kết hợp chăn nuôi và cây ăn quả, đạt thu nhập khoảng 80 triệu đồng/năm.
Chị Lữ Thị Bảy phát triển hoạt động ươm cây giống, trồng và cung cấp cây vầu cho người dân, đạt thu nhập khoảng 120 triệu đồng/năm, đồng thời tạo việc làm cho khoảng 20 lao động địa phương.
Cây vầu đang dần trở thành hướng phát triển kinh tế hiệu quả. Từ mô hình trồng thâm canh ban đầu với 21ha và 25 hộ tham gia, diện tích trồng vầu tại đây đã mở rộng lên 215,4ha, với 215 hộ trồng. Việc mở rộng diện tích cho thấy người dân từng bước chuyển sang lựa chọn cây trồng phù hợp điều kiện tự nhiên, có khả năng mang lại giá trị kinh tế.
Bà Lê Thị Kiêu - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Yên Khương, cho biết địa phương đang tập trung khai thác lợi thế lâm nghiệp, chuyển đổi diện tích cây trồng hiệu quả thấp và khuyến khích người dân sử dụng giống có năng suất, chất lượng cao hơn.
Con đường vào xã Yên Khương. Ảnh Chu Chương
Với 8.066,23ha đất lâm nghiệp, bao gồm rừng tự nhiên và rừng sản xuất, kinh tế rừng được xác định là một trong những trụ cột phát triển của xã. Cùng với tăng cường quản lí, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và chăm sóc rừng trồng, địa phương vận động người dân phát triển rừng gỗ lớn, phục tráng rừng luồng, nâng cao giá trị kinh tế trên diện tích đất hiện có.
Một trong những hướng đi là thay thế hơn 5.000ha keo thông thường bằng giống keo cấy mô có năng suất và giá trị kinh tế cao hơn. Đồng thời, xã từng bước chuyển đổi những diện tích keo sinh trưởng kém, hiệu quả thấp sang các loại cây phù hợp hơn.
Trong đó, cây tre mai được kì vọng sẽ tạo thêm sinh kế cho người dân. Theo bà Kiêu, gần 100ha cây keo kém hiệu quả đã được chuyển sang trồng tre mai. Sau khoảng 3 năm, loại cây này có thể mang lại thu nhập khoảng 100 triệu đồng/ha. Đáng chú ý, người dân đã liên kết với một đơn vị tại Hà Nội để bao tiêu sản phẩm, góp phần giảm rủi ro đầu ra.
Dự kiến cuối năm 2026, xã tiếp tục chuyển đổi 50ha đất trồng keo kém hiệu quả sang trồng tre mai. Việc mở rộng diện tích gắn với liên kết tiêu thụ được kỳ vọng tạo động lực phát triển sản xuất hàng hóa, giúp người dân chủ động hơn trong lựa chọn cây trồng và tổ chức sản xuất.
Bên cạnh lâm nghiệp, Yên Khương duy trì gần 100 ha cây ăn quả và rau màu, cùng diện tích lúa phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt. Tổng đàn gia súc, gia cầm của xã đạt gần 33.600 con. Một số mô hình vật nuôi đặc sản cũng bước đầu đem lại hiệu quả, như hộ anh Ngân Văn Yêu ở bản Xắng Hằng nuôi 150 con dúi và cầy hương, cho thu nhập hơn 100 triệu đồng/năm.
Tháo gỡ khó khăn, hướng tới giảm nghèo bền vững
Dù kinh tế có những chuyển biến, Yên Khương vẫn đối mặt nhiều khó khăn do quy mô sản xuất nhỏ, sức cạnh tranh hạn chế và liên kết thị trường chưa ổn định. Địa bàn rộng, địa hình chia cắt, dân cư phân tán cũng làm tăng chi phí đầu tư hạ tầng và tổ chức các dịch vụ thiết yếu.
Theo bà Lê Thị Kiêu, toàn xã hiện còn 72 hộ nghèo, chiếm 6,13%, và 407 hộ cận nghèo, chiếm 34,67%. Địa phương tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ, huy động và lồng ghép nguồn lực nhằm giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống người dân.
Tỉ lệ hộ cận nghèo còn cao cho thấy nguy cơ tái nghèo vẫn hiện hữu nếu sinh kế thiếu ổn định, sản xuất gặp thiên tai hoặc thị trường biến động. Vì vậy, cùng với hỗ trợ các hộ khó khăn, xã cần tiếp tục nhân rộng mô hình kinh tế hiệu quả, đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng sản xuất, giúp người dân chủ động tạo thu nhập.
Cánh đồng vàng bên suối ở Yên Khương. Ảnh Chu Chương
Trong 9 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn cơ bản ổn định. Công tác quản lí, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng được tăng cường. Xã vận động người dân phát triển rừng gỗ lớn, nâng cao giá trị kinh tế rừng, đồng thời thực hiện xác nhận nguồn gốc lâm sản đối với rừng trồng.
Trong lĩnh vực kinh doanh, địa phương có thêm một doanh nghiệp thành lập mới và 6 hộ đăng kí kinh doanh mới. Tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 của xã là hơn 20,2 tỉ đồng; đến thời điểm báo cáo, đã giải ngân 18,5 tỉ đồng, đạt 91,58%. Nguồn vốn đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải thiện hạ tầng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hoàn thiện các tiêu chí nông thôn mới.
Môi trường vẫn là một trong những tiêu chí chưa đạt. Với dân cư sống phân tán, việc tổ chức thu gom, xử lí chất thải đòi hỏi giải pháp phù hợp từng bản. Cùng với nâng cao tỉ lệ thu gom, địa phương cần tiếp tục vận động người dân giữ gìn vệ sinh khu dân cư, xử lí chất thải chăn nuôi và bảo vệ nguồn nước...
Theo lãnh đạo xã, bên cạnh kết quả đạt được, công tác chỉ đạo, điều hành có thời điểm chưa quyết liệt; kết quả thực hiện nhiệm vụ giữa các bản chưa đồng đều. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thương mại và dịch vụ vẫn nhỏ lẻ, việc ứng dụng khoa học - kĩ thuật và liên kết thị trường còn hạn chế. Đây là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ để nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng đời sống người dân.
Với mục tiêu đạt chuẩn nông thôn mới trước năm 2030, Yên Khương xác định nâng cao thu nhập là nhiệm vụ xuyên suốt, lấy phát triển kinh tế rừng, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi và mở rộng liên kết sản xuất làm những hướng đi trọng tâm. Cùng với đó, địa phương tiếp tục huy động nguồn lực đầu tư hạ tầng, nâng cao chất lượng lao động, cải thiện môi trường và thực hiện hiệu quả các chính sách giảm nghèo.
Hành trình xây dựng nông thôn mới ở xã biên giới này không chỉ được đo bằng số tiêu chí hoàn thành hay những công trình hạ tầng được đầu tư. Quan trọng hơn là tạo sinh kế bền vững, giúp người dân nâng cao thu nhập, chủ động vươn lên thoát nghèo và phát huy lợi thế tài nguyên rừng. Khi các mô hình sản xuất hiệu quả được nhân rộng, liên kết tiêu thụ được củng cố và chất lượng quản lí cơ sở tiếp tục cải thiện, Yên Khương sẽ có thêm điều kiện thu hẹp khoảng cách phát triển với các địa phương khác trong tỉnh.