Vì sao giống xoài cát Hoà Lộc, thanh long ruột đỏ của Việt Nam rất ngon nhưng dần lép vế trước đối thủ ngoại?
Đại biểu Hoàng Văn Nghĩa (đoàn Quảng Ngãi) cho biết, giống xoài cát Hòa Lộc hay thanh long ruột đỏ của chúng ta dù rất ngon nhưng vỏ mỏng, nhanh hỏng, chịu chi phí vận chuyển cao nên đang dần mất thị phần vào tay giống xoài Nam Dok Mai của Thái Lan hay giống thanh long vỏ vàng của Malaysia.
Đại biểu Hoàng Văn Nghĩa (đoàn Quảng Ngãi) cho biết, là một trong những quốc gia xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu thế giới, sở hữu tài nguyên di truyền phong phú và nhiều bằng bảo hộ giống cây trồng. Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh quốc tế của các sản phẩm nông sản chủ lực của chúng ta vẫn còn rất khiêm tốn và đang đứng trước nhiều thách thức. Ảnh: QH
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phải gắn liền với quyền tiếp cận khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo
Sáng 3/11, phát biểu tại thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, đại biểu Hoàng Văn Nghĩa (đoàn Quảng Ngãi) cho biết, Việt Nam tự hào là một trong những quốc gia xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu thế giới, sở hữu tài nguyên di truyền phong phú và nhiều bằng bảo hộ giống cây trồng.
Tuy nhiên, một thực tế đầy trăn trở là khả năng cạnh tranh quốc tế của các sản phẩm nông sản chủ lực của chúng ta vẫn còn rất khiêm tốn và đang đứng trước nhiều thách thức.
Đại biểu lấy ví dụ về giống xoài cát Hòa Lộc hay thanh long ruột đỏ của chúng ta dù rất ngon nhưng vỏ mỏng, nhanh hỏng, chịu chi phí vận chuyển cao nên đang dần mất thị phần vào tay giống xoài Nam Dok Mai của Thái Lan hay giống thanh long vỏ vàng của Malaysia, những giống được nghiên cứu bài bản về đặc tính thương mại và được bảo vệ bản quyền nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế.
Theo đại biểu, một trong những nguyên nhân cốt lõi nằm ở thể chế pháp lý về sở hữu trí tuệ của chúng ta chưa tạo đủ động lực thúc đẩy thương mại hóa và chưa hoàn toàn tương thích với các chuẩn mực quốc tế cao nhất.
Qua nghiên cứu Tờ trình của Chính phủ và đặc biệt là Báo cáo thẩm tra số 1208 của Ủy ban Pháp luật, tôi đánh giá rất cao sự nghiêm túc, khách quan của cơ quan thẩm tra cũng như cơ quan soạn thảo.
Báo cáo đã chỉ ra Việt Nam hiện là thành viên của 34 điều ước và cam kết quốc tế về sở hữu trí tuệ. Tại điểm a khoản 8 Điều 1 của dự thảo Luật hiện nay chưa tương thích với điểm b khoản 1 Điều 22 của Công ước Quốc tế về Bảo hộ Giống cây trồng Mới (UPOV).
Quy định về nghĩa vụ tại Điều 191 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành chưa đủ cấu thành hành vi mà chủ bằng đã được cơ quan nhà nước yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn nhất định.
Do đó, đại biểu kiến nghị cần sửa ngay quy định về việc đình chỉ bằng bảo hộ để vừa bảo đảm tính tương thích với UPOV, vừa bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ bằng bảo hộ.
Góp ý hoàn thiện dự thảo Luật tập trung vào nguyên tắc tuân thủ Điều 19.4 và Điều 22.1(b) của Công ước UPOV, đại biểu đề xuất bổ sung 2 nội dung vào dự thảo:
Thứ nhất, về cơ chế đình chỉ bằng bảo hộ tại Điều 170: Đại biểu đề nghị xem xét bãi bỏ quy định bằng bảo hộ tự động bị đình chỉ hiệu lực tại khoản 3 Điều 170 để bảo đảm tính tương thích với Điều 22.1 của UPOV. Đồng thời, cần bổ sung quy định cơ quan quản lý, thông qua việc tăng cường quản trị số theo thời gian thực, phải gửi thông báo yêu cầu và gia hạn trong một thời hạn nhất định trước khi quyết định đình chỉ quyền của chủ bằng.
Thứ hai, về tính dự liệu pháp lý tại Điều 11 của UPOV và nguy cơ ảnh hưởng đến các nhà chọn tạo Việt Nam: Dự thảo sửa đổi Điều 187 theo hướng mở rộng phạm vi quyền của chủ bằng bảo hộ đối với giống cây trồng có nguồn gốc chủ yếu. Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 3 lại áp dụng hồi truy quy định này đối với tất cả các bằng bảo hộ đã được cấp trước đó.
Báo cáo thẩm tra tại Mục 6.5 đã chỉ ra rất đúng vấn đề này: Quy định hồi truy sẽ biến các giống lúa, giống cây ăn quả mà các viện nghiên cứu, doanh nghiệp và nông dân Việt Nam đang chọn tạo, khai thác hợp pháp trở thành đối tượng vi phạm. Theo đại biểu, điều này vừa chưa đúng với tinh thần Điều 19.4 của UPOV, vừa hạn chế quyền tiếp cận khoa học - công nghệ theo Điều 15 của Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (mà Việt Nam là thành viên) cũng như các quyền Hiến định.
Để nâng cao sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam và thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét chỉnh lý hai nội dung:
Bổ sung minh bạch quy định miễn trừ vì mục đích nghiên cứu và chọn tạo giống vào Điều 187, bảo đảm các nhà khoa học, viện nghiên cứu Việt Nam có quyền tự do sử dụng các giống đã bảo hộ làm nguồn vật liệu khởi đầu để chọn tạo ra các giống mới có đặc tính thương mại vượt trội (như vỏ dày, chịu được vận chuyển xa) mà không bị coi là vi phạm bản quyền.
Sửa đổi quy định chuyển tiếp tại khoản 5 Điều 3 theo hướng loại bỏ tính hồi truy đối với phạm vi quyền tại Điều 187. Theo đó, quy định rõ các tổ chức, cá nhân đã đầu tư, khai thác hợp pháp giống cây trồng trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục được quyền khai thác mà không bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
“Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phải gắn liền với quyền tiếp cận khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chỉ khi ấy, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ mới thực sự đi vào cuộc sống, mở đường cho sự phát triển bứt phá của khoa học - công nghệ và nâng cao vị thế nông sản Việt Nam” – đại biểu đoàn Quảng Ngãi nói.
Cần làm rõ hậu quả pháp lý của việc đình chỉ tự động và phục hồi hiệu lực bằng bảo hộ
Sau khi nghiên cứu hồ sơ dự thảo luật và báo cáo tiếp thu, giải trình của cơ quan soạn thảo, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú (đoàn Nghệ An) đề xuất bổ sung 3 nội dung vào dự thảo luật:
Thứ nhất, về đình chỉ và phục hồi hiệu lực bằng bảo hộ giống cây trồng tại khoản 8 Điều 1 sửa đổi khoản 3, khoản 5 Điều 170. Dự thảo quy định bằng bảo hộ giống cây trồng tự động bị đình chỉ hiệu lực kể từ ngày bắt đầu năm hiệu lực đầu tiên lệ phí duy trì hiệu lực không được nộp. Việc đình chỉ được công bố trong 30 ngày kể từ ngày bị đình chỉ. Bằng được phục hồi khi lý do bị đình chỉ đã được khắc phục.
Đồng tình với mục tiêu giảm thủ tục, tuy nhiên theo đại biểu quy định này tác động trực tiếp đến quyền đối với giống cây trồng, có thể kết quả của nhiều năm nghiên cứu và đầu tư. Vì vậy, đại biểu đề nghị làm rõ hậu quả pháp lý của việc đình chỉ tự động và phục hồi hiệu lực bằng bảo hộ.
Báo cáo giải trình cho rằng nghĩa vụ nộp lệ phí đã được pháp luật quy định, công báo và hệ thống trực tuyến giúp chủ bằng tiếp cận thông tin, đồng thời nêu thời hạn khắc phục 6 tháng.
Nữ đại biểu cũng đề nghị cần thể hiện rõ cơ chế bảo đảm cơ hội khắc phục và tình trạng pháp lý của quyền trong thời gian đó. Nếu bằng bị đình chỉ rồi được phục hồi, quyền có được duy trì liên tục không? Trong thời gian đình chỉ, người thứ ba thực hiện hành vi thuộc phạm vi quyền của chủ bằng xử lý như thế nào? Nếu chủ bằng đã nộp lệ phí đúng hạn nhưng hệ thống cập nhật chậm, quyền của họ được bảo vệ ra sao?
Đây hệ quả đối với quyền tài sản cần được xác định về nguyên tắc ngay trong luật. Quy định phục hồi khi nguyên nhân đình chỉ đã được khắc phục chưa làm rõ thời điểm và phạm vi hiệu lực của việc phục hồi.
Nữ đại biểu cũng đề nghị bổ sung cơ chế thông báo điện tử, thời gian nộp muộn có phụ phí và nguyên tắc duy trì hiệu lực liên tục nếu hoàn thành nghĩa vụ trong thời gian cho phép. Chính phủ quy định thời hạn, phương thức thông báo và thủ tục. Nếu giữ đình chỉ tự động, luật cần xác định rõ thời điểm phục hồi và cách xử lý quyền phát sinh trong thời gian đình chỉ.
Thứ hai, về khảo nghiệm kỹ thuật tại khoản 15 Điều 1 sửa đổi Điều 178. Đại biểu bày tỏ sự tán thành việc mở rộng quyền tự khảo nghiệm, thuê tổ chức khác khảo nghiệm và sử dụng kết quả đã có nhằm giảm thời gian, chi phí cho các viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các nhà chọn tạo giống.
Báo cáo giải trình nêu kết quả tự khảo nghiệm vẫn phải được thẩm định, Nghị định 79 của Chính phủ đã quy định kiểm tra điều kiện quá trình khảo nghiệm và báo cáo kết quả. Vì vậy cơ quan soạn thảo đề nghị không bổ sung riêng nguyên tắc kiểm chứng này vào luật.
Tuy nhiên, quy định về thẩm định chưa giải quyết đầy đủ tính minh bạch khi chấp nhận hoặc từ chối sử dụng kết quả đã có. Cụm từ "có thể sử dụng" tại khoản 2 cần gắn với tiêu chí công khai. Độ tin cậy của kết quả khảo nghiệm DUS về tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định phụ thuộc vào giống đối chứng, phương pháp, điều kiện thực hiện và dữ liệu gốc.
Vì vậy việc thay đổi địa điểm hoặc điều kiện khảo nghiệm có thể cần được đánh giá về chuyên môn, nhưng không nên tự động dẫn đến yêu cầu khảo nghiệm lại toàn bộ.
Nữ đại biểu đoàn Nghệ An đề nghị bổ sung nguyên tắc kết quả khảo nghiệm đã có được sử dụng khi cơ quan có thẩm quyền xác định đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và đủ cơ sở phục vụ thẩm định. Việc không chấp nhận hoặc yêu cầu khảo nghiệm bổ sung phải nêu rõ căn cứ chuyên môn và nội dung cần bổ sung.
Tại Khoản 3 đã giao cho Bộ trưởng quy định chi tiết, nữ đại biểu đề nghị cụ thể hóa tiêu chí sử dụng kết quả trong nước, nước ngoài, yêu cầu về lưu giữ, truy xuất dữ liệu và vật liệu khảo nghiệm theo đặc điểm từng loại, kiểm chứng khi có căn cứ cần thiết. Phạm vi khảo nghiệm bổ sung phải phù hợp với thiếu hụt hoặc nghi vấn chuyên môn được xác định.
Thứ ba, về giám định sở hữu trí tuệ tại khoản 21 Điều 1 sửa đổi Điều 201. Báo cáo giải trình nghĩa vụ từ chối giám định khi có lợi ích liên quan, yêu cầu về căn cứ, phương pháp và trách nhiệm bồi thường đã được quy định tại các nghị định.
Nữ đại biểu đề nghị hoàn thiện nghĩa vụ nghề nghiệp, hậu kiểm, không tái lập điều kiện kinh doanh đã bãi bỏ, cần rà soát để nghĩa vụ này áp dụng đầy đủ cho tổ chức, cá nhân hoạt động theo cơ chế mới. Tại khoản 4 về việc bổ sung báo cáo kết quả hoạt động giám định đã thực hiện nhằm minh bạch kinh nghiệm và có cơ sở.
Tuy nhiên, yêu cầu công khai thông tin này chỉ loại trừ thông tin định danh cá nhân, có thể dẫn đến công bố nội dung chứa bí mật kinh doanh, dữ liệu kỹ thuật hoặc thông tin khách hàng cần bảo vệ. Nghĩa vụ cập nhật trong 10 ngày làm việc cũng có thể bị hiểu phải thông báo sau mỗi kết quả giám định.
Do đó, đại biểu đề nghị thay cụm từ này bằng thông tin khái quát về kinh nghiệm hoạt động giám định, giữ yêu cầu thông báo về lĩnh vực kiến thức và nghiệp vụ chuyên môn, phần loại trừ khỏi phạm vi công bố các thông tin được pháp luật bảo vệ.
Hồ sơ, kết luận được lưu giữ và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật. Đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 3 nguyên tắc về kiểm soát xung đột lợi ích và khả năng kiểm chứng kết luận; khoản 6 giao cho Chính phủ quy định hậu kiểm; việc đăng tên trên cổng thông tin phải được phân biệt với chứng nhận năng lực.